La Tonkinoise de l’île de Groix. ROLLAND, Dominique

Chapitre

Titre: Colonisation
Durée: 00:04:42   [00:00:00 > 00:04:42]
Genre: Extrait de récit de vie filmé
« Parfois, parfois, je me sens traversée d’une angoisse dure et froide comme un caillou. Ce n’est pas de la peur, non, de la solitude crue, humide. Comme un enfant qu’on ramène en pension un dimanche soir. L’arrachement inévitable. Non, non, je n’ai pas été en pension, ce n’est pas un souvenir… c’est juste… une impression. L’impression, vous voyez, que je n’avais pas le choix. Je veux dire qu’une certaine forme de bonheur ne m’était pas accessible. Ce n’était de la faute de personne. C’était ainsi. Je n’étais pas malheureuse. C’étaient les gens autour de moi qui avaient du malheur. Pas spécialement moi. On était installés dans la douleur, depuis longtemps je crois. Quelle douleur ? La douleur de ne pas savoir qui on est, où on est. Du côté du bien, du côté du mal. Ce n’est pas facile. De quoi je parle ? De la colonisation. » (Dominique Rolland).
Langue: Tiếng Việt
I. Thuộc địa Nhiều khi, một nỗi sợ hãi chạy dọc sống lưng, nhanh và lạnh như đá. Đó không phải là sợ hãi, không phải, mà là sự cô độc sống sượng, ẩm ướt. Giống như một đứa trẻ được dắt về quán trọ vào một tối chủ nhật. Nỗi đau chia lìa không thể tránh được. Không, không, tôi chưa bao giờ ở quán trọ, đó không phải là một kỷ niệm...chỉ là một cảm giác thôi. Cảm giác là, như các bạn thấy, tôi không có sự lựa chọn. Tôi muốn nói rằng tôi không thể có được một số niềm hạnh phúc. Chẳng ai có lỗi cả. Chỉ là như thế. Tôi không bất hạnh. Chỉ những người xung quanh tôi mới bất hạnh. Còn tôi, không. Người ta bị đặt vào một nỗi đau từ lâu rồi. Nỗi đau nào? Nỗi đau không biết mình là ai, không biết mình ở đâu, mình tốt hay xấu. Không dễ dàng chút nào. Tôi đang nói về cái gì? Về thuộc địa.
Titre: Avion 1
Durée: 00:02:00   [00:04:42 > 00:06:42]
Genre: Extrait de récit de vie filmé
« C’est drôle, c’est drôle. Je ne me souviens pas d’avoir vu la ville d’en haut quand l’avion amorçait sa descente. Toute la nuit, une petit lumière avait clignoté sur l’aile, et puis dans le ciel, quelque chose avait pâli, le noir virant à l’indigo, l’indigo au violacé, le violacé au rose pivoine. Et puis on descend sur l’aéroport de Nôi Bay, Hanoi. Hà nôi, Tonkin. C’est comme ça qu’elle commence, l’histoire. A l’école communale, quand on écrit à l’encre violette, lieu de naissance de la mère, deux points, Hanoi, entre parenthèses, Tonkin. A l’époque, Hanoi, je l’écrivais à la française, en un seul mot. Je ne savais pas qu’il y avait une autre façon de l’écrire, plus âpre, en deux mots, l’accent grave sur le a, l’accent circonflexe sur le o et puis un point, en dessous, comme un coup frappé. Hà nôi. Hà nôi. Mais à l’école communale on ne sait rien de tout ça, juste qu’il faut mettre Tonkin entre parenthèses, parce que c’est la province. Oui, la province. Mais la province de quoi ? La province comme le Languedoc, la Bretagne, l’Auvergne ? Dans la salle de classe, il y a une carte de France, massive, hexagonale, avec tous ses départements colorés serrés les uns contre les autres. Non, le Tonkin n’y est pas. Il figure, sur une autre carte, on lui tourne le dos. L’empire colonial français, c’est un au-delà de l’hexagone qui s’étale sur le mur du fond. C’était la fin de l’année, la fin du programme, et puis c’était aussi la fin de cet empire-là, parce que le Tonkin, c’était un pays où il y avait la guerre. Oui, la guerre. Mais quelle guerre, je ne savais pas, chez moi, on ne disait rien. » (Dominique Rolland).
Langue: Tiếng Việt
II. Máy bay 1 Thật hài hước. Tôi đã không nhớ hình ảnh thành phố khi nhìn từ trên cao lúc máy bay hạ cánh. Trong đêm tối, chỉ có ánh sáng nhấp nháy từ cánh máy bay và từ trên trời một cái gì đó nhạt dần, màu đen chuyển sang màu chàm, màu chàm chuyển sang màu tím hoa cà, màu tím hoa cà chuyển sang màu hồng của hoa mẫu đơn. Hạ cánh. Sân bay Nội Bài. Hà Nội, Bắc kỳ. Câu chuyện bắt đầu như thế. Ờ trường tiểu học, chúng tôi viết bằng mực tím, nơi sinh của mẹ, hai chấm, Hanoi, đóng mở ngoặc Bắc kỳ. Hồi đó, tôi viết chữ Hà Nội bằng tiếng Pháp, gồm chỉ một từ-Hanoi. Tôi không biết là có cách viết khác, hai từ, dấu huyền ở chữ a của từ thứ nhất, dấu mũ và dấu nặng ở chữ o ở từ thứ 2- Hà Nội, vâng Hà Nội. Thế mà ở trường học, chẳng ai biết gì về điều này cả, chỉ biết đặt từ Bắc kỳ trong ngoặc đơn để chỉ rõ là ở tỉnh Bắc kỳ. Nhưng Bắc kỳ là tỉnh ư? tỉnh nào? tỉnh giống như Languedoc? như Bretagne? hay như Auvergne? Trong lớp học, có một tấm bản đồ nước Pháp rất lớn, hình lục lăng có đủ tất cả các tỉnh, được tô màu tỉnh nọ sát tỉnh kia. Thế Bắc kỳ ở đâu? Không thấy trên bản đồ. Có, nhưng ở bản đồ khác, người ta không màng đến. Ở các nước thuộc địa của Pháp, ở đó người ta lại không màng đến hình lục giác trải dài trên bức tường cuối lớp. Lúc đó là vào cuối năm học, kết thúc chương trình, và rồi cũng là kết thúc chế độ thuộc địa bởi vì Bắc kỳ đang có chiến tranh. Đúng, chiến tranh. Nhưng chiến tranh nào ? tôi không biết. Ở nhà tôi, mọi người chẳng nói gì cả.
Titre: Carte d'identité
Durée: 00:04:13   [00:06:42 > 00:10:55]
Genre: Extrait de récit de vie filmé
« Il y a quelques temps, j’ai retrouvé la carte d’identité de mon grand-père, celle qui date de 1937. A l’époque de l’école communale, c’est chez lui que je vivais. Sur la carte, il y a écrit : Charles-Eugène Harter, né en 1894 à Dap Cau, province de Bac Ninh, fils de Charles Eugène Harter, ingénieur des chemins de fer de l’Indochine et de Nguyen thi Nghièm, son épouse. Son épouse ! Fils légitime, carte d’identité française, pas de problème. Et pourtant, à la troisième ligne, après la mention signes particulier néant, cette autre mention, très étrange: teint, deux points, bistre. Bistre. C’est un drôle de mot. Moi je ne l’ai entendu utiliser que pour les paupières. On dit : paupières bistre. Et encore, seulement quand on parle des yeux des femmes dans les tableaux de la renaissance, ou de ceux des anges très fatigués. Et le teint ? Est-ce une manière pudique de dire la couleur de la race, la couleur de la peau? Non, je ne crois pas : quand on parle du teint, ce n’est pas à propos de ce qu’on appelle les gens de couleur, mais plutôt de ceux qui n’ont pas tout à fait de couleur mais un peu quand même: on dit le teint basané, le teint olivâtre. Etre teinté, c’est n’être pas tout à fait blanc. Mais blanc quand même un peu. Blanc quand même pas mal, plus blanc qu’autre chose. Teint bistre, qu’est ce que ça veut dire ? Mon grand-père, le type au teint bistre, il était métis. C’est pour ça, le teint bistre. Lui, il préférait dire eurasien, parce que de son temps, métis, c’était une insulte. Oui, une insulte. On disait « Sale métis, Sale race de métis ». Aujourd’hui, on a du mal à comprendre, le métissage chez nous est à la mode. On a oublié l’origine coloniale du mot, on pense juste que c’est une chance, un plus dans l’identité, deux cultures, c’est mieux qu’une seule, ça s’additionne. Sauf que, ce n’est pas aussi simple, être métis. Etre métis, ce n’est comme ça, ce n’est pas être deux personnes distinctes, c’est être à la fois l’un et l’autre, avoir toujours une part de l’autre en soi, une part de soi en l’autre. Etre métis, c’est porter en soi les deux parts d’un monde inégal. Etre à la fois l’un et l’autre. Colonisateur et colonisé, dominant et dominé, possédant, et dépossédé. Bien sur, on pourrait me demander ce qu’il m’en reste à moi de ce métissage? Pas grand-chose, de la couleur diluée, de l’identité diluée, presque rien. Et on pourrait se demander tout aussi bien ce qui leur en reste, à eux, les gamins en capuche qui caillassent des bagnoles, qu’est ce qui leur en reste, à eux, de leur origines kabyles, sénégalaises, maliennes, khmères, tamoules, congolaises, canaques, vietnamiennes et que sais-je encore ? De la couleur diluée, de l’identité diluée, pas grand-chose, presque rien. Parfois, à la télévision, on voit des émissions qui s’appellent double jeu, ou double culture. On y invite des écrivains, des intellectuels, des artistes. A les entendre, on comprend tout de suite l’avantage qu’il y a d’avoir deux cultures plutôt qu’une seule. Oui, mais, essayez donc d’aller leur expliquer, aux gamins en capuche qui caillassent des bagnoles, la chance qu’ils ont, d’avoir à la fois leur noble ancestralité africaine et puis l’héritage des lumières… non, eux c’est pas deux cultures qu’ils ont, c’est une culture qui leur a échappé et l’autre qu’ils n’ont jamais réussi à attraper, alors…Ben alors, ils passent pas dans les mêmes émissions, c’est tout ! » (Dominique Rolland).
Langue: Tiếng Việt
III. Chứng minh thư nhân dân Cách đây một thời gian, tôi đã tìm thấy chứng minh thư nhân dân của ông nội tôi từ năm 1937. Hồi tôi học tiểu học, tôi sống ở nhà ông. Trên tấm thẻ có ghi: Charles-Eugène Harter, sinh năm 1894 ở Đáp Cầu, tỉnh Bắc Ninh, con trai của của Charles Eugène Harter, kỹ sư ngành đường sắt Đông Dương và vợ là Nguyễn Thị Nghiêm. Vợ! Con trai, chứng minh thư nhân dân của Pháp, không vấn đề gì cả. Tuy nhiên, ở dòng thứ 3, sau khi ghi không có đặc điểm nhận dạng gì đặc biệt là đến dòng ghi màu da rất lạ: nâu xám. Nâu xám, từ nghe hay thật. Tôi chỉ nghe thấy từ này khi nói về màu lông mày, hay khi nói về mắt của phụ nữ trong tranh thời Phục hưng hoặc mắt của những thiên thần mệt mỏi thâm quầng mà thôi. Màu da? Liệu đây có phải là một cách kín đáo để nói về sắc tộc, về màu da? Không, tôi không tin như thế: Khi người ta nói về màu da, không phải người ta nói về những người da màu mà về những người không có màu da hay da ngăm đen, nước da màu ô-liu. Da màu, nghĩa là không phải da trắng. Nhưng cũng khá trắng, trắng hơn màu khác. Thế còn da nâu xám nghĩa là gì? Ông tôi có nước da nâu xám. Ông tôi là con lai, vì thế, ông có nước da nâu xám. Ông thích được nói là người Á-Âu hơn là con lau vì thời của ông, con lai là một câu chửi. Vâng, một câu chửi. Người ta thường nói “con lai bẩn thỉu, giống lai bẩn thỉu”. Bây giờ, chúng ta không thể nào hiểu được vì từ “lai” hiện nay đang là mốt. Người ta hoàn toàn quên từ “con lai” bắt nguồn từ thời thuộc địa, chỉ còn nghĩ rằng đó là một may mắn được mang hai nền văn hóa, có thêm một bản sắc, trừ việc là con lai không đơn giản như thế. Con lai không phải là hai người riêng biệt mà là hai trong một, là cả hai, là mang trong mình hai phần của một thế giới bất bình đẳng. Kẻ thực dân và người dân thuộc địa, kẻ trị vì và người bị trị, kẻ chiếm hữu và người bị mất quyền sở hữu. Tất nhiên, mọi người có thể sẽ hỏi dòng máu lai để lại gì trong tôi? Không có gì nhiều, ngoài màu da pha trộn, ngoài bản sắc pha trộn, chẳng có gì nữa cả. Và mọi người có lẽ cũng sẽ hỏi dòng máu lai để lại gì ở những cậu bé mặc áo có mũ chùm đầu có nguồn gốc Ta-mun, Khơ-me, Sê-nê-gan, Công-gô, Việt Nam... Tôi còn biết gì nữa ngoài màu da pha trộn, ngoài bản sắc pha trộn, ngoài ra chẳng gì cả. Thỉnh thoảng, trên vô tuyến tryền hình, có những trò chơi kép hay trò chơi văn hóa kép. Trong chương trình, khách mời thường là các nhà văn, các trí thức, các nghệ sĩ. Khi nghe họ, người ta hiểu ngay lập tức lợi thế về việc mang trong mình hai nền văn hóa so với chỉ có một. Vâng, nhưng hãy thử đến giải thích cho những cậu bé mặc áo có mũ chùm đầu về sự may mắn được mang trong mình đồng thời dòng máu của tổ tiên châu Phi và dòng máu của kẻ khai sáng xem sao. Không, chúng không có được hai nền văn hóa vì một nền văn hóa đã tuột khỏi chúng còn nền văn hóa còn lại chúng không bao giờ chạm được tới. Vậy nên, các cậu bé đó không lên cùng các chương trình với các nghệ sĩ, các trí thức và các nhà văn. Thế thôi!
Titre: On racontait autrefois dans l’île de Groix
Durée: 00:02:23   [00:10:55 > 00:13:18]
Genre: Extrait de récit de vie filmé
« On racontait autrefois dans l’île de Groix qu’un marin était parti au Tonkin et qu’il avait ramené une femme de là-bas. On disait aussi qu’on la voyait parfois assise entre les rochers et regardant la mer. On l’appelait la Tonkinoise de l’île de Groix C’était une légende, ou ce n’était pas tout à fait une légende, car derrière toute légende, il y a toujours une part de vérité. Et derrière cette légende, celle de la Tonkinoise, il y a bien une femme, une vraie. Sa vie, elle tient ce bout papier. C’est un acte de décès. Il date du17 septembre 1853, ici, à Lorient, écoutez : Ce jour à Lorient à huit heures et demie du matin est morte Hélène Barisy …., rentière, née à Hué capitale de la Cochinchine en l’an mille huit cent, âgée d’environ cinquante-trois ans, domiciliée à Lorient, fille de feu Laurent Estiennet Barisy de Groix, ancien officier de marine et dont on ignore le nom de la mère, veuve de Jean Baptiste Chaigneau, grand mandarin du Roi de Cochinchine, Morte en cette ville rue de l’hôpital, maison de la Providence…. A partir de là à improviser avec Benoît Pas d’autre trace d’elle ? Pas de photos, pas de lettres, pas de portraits ? non, rien. Mais si on sait lire entre les lignes, on peut apprendre beaucoup de choses, sur cette femme. Regarde. Son père : Laurent Estiennet Barisy, natif de Groix ; son époux : Jean Baptiste Chaigneau, né à Lorient. Leurs noms sont connus. Barisy, ancien officier de marine, Chaigneau, grand mandarin du Roi de Cochinchine. En fait ils furent les deux. Tous les deux. Je veux dire mandarins et marins. En fait marins d’abord, mandarins ensuite. C’étaient des amis de jeunesse, ils s’étaient connus en Bretagne, avaient navigué ensemble. Puis ils se sont perdus de vue, pour finalement, un jour, se retrouver en Cochinchine. » (Dominique Rolland).
Langue: Tiếng Việt
IV. Người ta kể rằng ngày xưa ở đảo Groix Người ta kể rằng ngày xưa ở đảo Groix có một chàng lính thuỷ đi tới vùng Bắc kỳ: thuộc địa của Pháp ở Đông Dương và khi trở về đem theo một người vợ. Người ta cũng kể rằng thỉnh thoảng nhìn thấy cô vợ ngồi trên những mỏm đá và nhìn xa xăm ra biển. Người ta gọi cô là người Bắc kỳ trên đảo Groix. Đó là truyền thuyết, mà cũng không hẳn là truyền thuyết vì đằng sau nó có một phần sự thật: cũng đã từng có một phụ nữ Bắc kỳ sống trên đảo cho đến khi chết theo như mảnh giấy sau, viết ngày 17 tháng 9 năm 1853 ở đây, ở Lorient: “ Hélène Barisy từ trần hồi 8 giờ 30 phút ngày hôm nay tại Lorient. ...sống bằng tô tức, sinh ra ở Huế thủ đô của thuộc địa Pháp tại Đông Dương năm 1800, hướng thọ 53 tuổi, sống ở Lorient, con gái của ông Laurent Estiennet Barisy, người đảo Groix, sỹ quan hải quân đã mất, người ta không biết tên mẹ của bà. Hélène Barisy là goá phụ, chồng bà là Jean Baptiste Chaigneau, trước đây là quan lớn của vua xứ thuộc địa Pháp. Bà đã mất tại ngôi nhà Providence, phố Bệnh viện tại thành phố này...” Không có dấu vết gì về người phụ nữ này. Không có ảnh, không có thư từ, không một bức chân dung, không gì cả. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ các dòng trên thì cũng có không ít thông tin: cha bà là Laurent Estiennet Barisy, người đảo Groix. Chồng bà là Jean Baptiste Chaigneau sinh ra ở Lorient. Họ đều có họ tên, nghề nghiệp đầy đủ: Barisy là sỹ quan hải quân, Chaigneau là quan lớn xứ thuộc địa. Thực tế, họ làm cả hai. Ban đầu là sỹ quan hải quân, sau đó là quan lớn. Họ là bạn từ thời niên thiếu, quen nhau ở Bretagne và cùng đi tàu. Rồi họ mất liên lạc. Cuối cùng, vào một ngày họ lại gặp nhau ở Nam kỳ, thuộc địa Pháp tại Đông dương.
Titre: Histoire des Mandarins français
Durée: 00:04:45   [00:13:18 > 00:18:03]
Genre: Extrait de récit de vie filmé
« Mais avant, il faut que je vous explique. C’est un peu compliqué. Tout commence ici dans une île, du golfe du Siam en 1787, Phu Quoc. Dans cette île, une drôle de rencontre entre un évêque français, et un empereur annamite, c’est pas banal. L’évêque c’est l’évêque d’Adran, Monseigneur Pigneau- il est responsable des missions en Asie du sud-, et l’empereur c’est Nguyen Anh qui a été chassé du pouvoir par une révolte menée par deux frères, les Tay son. Ils sympathisent, se confient leurs soucis respectifs. Nguyen Anh aimerait bien trouver le moyen de retrouver le pouvoir, et l’évêque se demande comment réussir à implanter fermement les missions catholiques en Asie du sud-est. Je ne sais pas qui le premier en eut l’idée, mais ils se dirent que ce serait une bonne chose si la France aidait l’empereur à se rétablir sur le trône. « Est-ce que le Roi de France, Louis XVI, ne pourrait pas lui donner un coup de main à son homologue cochinchinois ? », demande Nguyen Anh. « Et en échange, les français pourraient commercer en Cochinchine ? », demande l’évêque. « Evidemment, répond Nguyen Anh, même jusqu’au Tonkin si vous voulez ». « Et pour les missions, je pourrais déployer les missions par ci et par là ? ». « Mais oui, puisque je serai empereur, c’est moi qui décide ». « Tope là ! », dit l’évêque, qui monte sur un bateau et emmène donc mon fils, le petit Prince Canh. Ça lui fera voir du pays. Arrivés à Versailles, ils sont reçus par Louis XVI qui n’est pas trop au courant. « Ah, bon, la Cochinchine, et il y a quoi, là-bas ? ». « Sire c’est un pays très riche, nous pourrons y commercer et traverser le pays jusqu’en Chine, sans rencontrer les Anglais ». « Ils ne sont pas là-bas les anglais ? ». « Non, ni les anglais ni les hollandais, ni les espagnols, il n’y a personne. Nous serons les seuls ». Louis XVI se tâte, ça ne l’emballe pas trop cette histoire d’empereur déchu, chassé par une révolte. Parce que lui aussi il a des soucis. On est en 1787, vous voyez, la déchéance, ça va lui tomber dessus dans pas longtemps. C’est Marie Antoinette qui va le convaincre, à cause du petit prince Canh, vous savez comme elle est frivole et assez éloignée des soucis de déchéance. Louis regardez comme il est mignon ce petit prince avec sa petite tunique de soie, on peut bien leur envoyer deux ou trois vaisseaux qu’est-ce que ça peut faire, on en a bien assez. « Allez, Louis s’il vous plaît. Bon!» dit Louis, « Il y a deux ou trois frégates en stationnement à Pondichéry, je vais demander qu’on les envoie en Cochinchine ». Marie Antoinette bat des mains, embrasse le petit Canh sur les deux joues- ça le dégoûte mais il est bien élevé. Et décide qu’elle va demander à son musicien de faire une chanson. Fait pour le diadème Royal enfant, consolez vous Adran vous aime consolez vous Royal enfant, vous régnerez Très contents, l’évêque et le prince Canh prennent le chemin du retour. Mais voilà, à Pondichéry, c’est la cata. Le représentant de la France à Pondichéry fait blocage. Il n’a aucune envie d’envoyer des navires ou des armes ou quoi que ce soit. Certes, il y a les ordres de Paris, mais il s’en fout. Des navires, ils n’en a pas beaucoup, il se les garde. Vous imaginez la déception. Mais l’évêque, c’est un battant, il a décidé d’aider son ami, il l’aidera. Il connait du monde dans le coin. Des aventuriers des commerçants, des marins : il leur propose de se mettre au service de Nguyen An. Et ils viennent. Parmi les premiers eux, vous l’avez compris nos deux bretons, Laurent Barisy et Jean Baptiste Chaigneau nous y voilà Ils vont faire la guerre, la guerre pour de vrai : dix ans ça, va durer. Jusqu’en 1802, Nguyen Anh se réinstalle à Hué sous le nom de Gia Long. C’est le premier empereur de la dynastie des Nguyen Et nos français enfin les survivants, sont anoblis et médaillés pour leur bravoure et leur fidélité. Ils deviennent mandarins. Barisy n’en profite pas vraiment, il meurt l’année de la victoire, mais deux des rescapés Chaigneau, et Vannier, resteront encore 20 ans à Hué. Et ils deviennent mandarins français. Mandarins pour de vrai. Grands mandarins, comme c’est dit sur l’acte de décès. Avec des brevets et des sceaux, des titres et des diplômes. Puis en 1820 l’empereur Gia Long mourut. Son fils Ming Mang lui succéda. Un type pas commode, qui n’aimait pas les français. Et 1825, il fallut vraiment rentrer. Chaigneau, Vannier, leurs femmes, leurs enfants métis. Retour à la case départ, Lorient. Oubliés de tous, depuis le temps, ils n’étaient plus mandarins de rien et qui s’en souciait alors, de la Cochinchine… Ah oui, Barisy avait une fille qu’il avait confiée à Chaigneau pour qu’il l’élève. C’est ce qu’il fit, sauf que quand elle a eu 17 ans, il la prit pour épouse. Elle s’appelait Hélène ; hélène Barisy. La boucle est bouclée… Fille de Laurent Barisy natif de Groix et d’une mère annamite dont on ignore le nom… Ce qui fait d’elle la première, oui, la première métisse connue et reconnue. » (Dominique Rolland).
Langue: Tiếng Việt
V. Câu chuyện giữa những quan lại Pháp Câu chuyện bắt đầu bằng cuộc gặp gỡ giữa Pierre Pigneau - vị giám mục Pháp và Nguyễn Ánh - vị vua An Nam tại đảo Phú Quốc vào năm 1787. Pierre Pigneau là giám mục tòa Adran, phụ trách công việc ở vùng Nam Á, còn Nguyễn Ánh là vị vua từng bị thế lực anh em nhà Tây Sơn nổi dậy đánh đuổi. Cả 2 đều rất thấu hiểu và quan tâm đến những lo lắng của nhau. Trong khi Nguyễn Ánh mong tìm mọi cách lấy lại quyền lực của mình thì vị giám mục kia lại muốn đưa đạo Thiên Chúa du nhập mạnh mẽ vào Đông Nam Á. Cả 2 cùng chủ trương dựa vào Pháp để giúp vị vua lấy lại vương quyền của mình. Đổi lại, vị giám mục đề nghị cho thương gia Pháp được buôn bán ở An Nam và được hẫu thuận trong việc truyền đạo. Cả 2 cùng đến Versailles và được vua Louis XVI đón tiếp dù ông cũng chả hay biết nhiều về tình hình ở An Nam. Nguyễn Ánh và giám mục Pierre Pigneau cùng kể về những đặc lợi mà vua Louis có thể nhận được ở An Nam. Tuy vậy, Louis XVI tỏ ra lưỡng lự và không quá hào hứng về câu chuyện của một vị vua bị truất ngôi kia bởi lẽ ông cũng có những mối lo riêng. Song bất chấp nguy cơ bị phế truất, Louis XVI đã bị hoàng hậu Marie Antoinette, người phụ nữ nhiều tai tiếng trong lịch sử Pháp, thuyết phục, gửi 2-3 tàu lớn tới Nam kỳ. Bởi lẽ bà rất quý mến cậu nhóc hoàng tử Cảnh, con của Nguyễn Ánh. Giám mục Pigneau và chúa Nguyễn Ánh mừng rỡ trở về, nhưng khi dừng chân nghỉ ở Pondichéry, nơi đồn trú của quân Pháp thì bị người chỉ huy ở đây chặn lại, giữ lại hết thuyền và quân đội, bất chấp cả mệnh lệnh của Louis XVI. Cả 2 rất thất vọng, song vị giám mục vẫn tìm cách giúp Nguyễn Ánh bằng cách kêu gọi các thương nhân, thủy thủ và cả những kẻ ưa phiêu lưu cùng giúp sức, trong đó có Laurent Barisy và Jean Baptiste Chaigneau. 2 người này đã giúp Nguyễn Ánh gây chiến và giành lại được vương quyền. Năm 1802, ông lên ngôi với hiệu là Gia Long, trở thành vị vua đầu tiên của triều Nguyễn. Cả 2 người này đều sống sót và được phong tước, và trở thành những vị quan thật sự trong triều đình Huế. Tuy nhiên, Barisy qua đời ngay trong năm đó, còn Chaigneau tiếp tục ở lại Huế làm quan trong suốt 20 năm. Sau khi vua Gia Long chết, Minh Mạng nối ngôi - ông tỏ ra không ưa những người Pháp. Chaigneau cùng vợ và cả những người con lai của mình đã trở về Lorient… Barisy khi mất đã gửi gắm người con gái Hélène Barisy cho Chaigneau, và sau này cô làm vợ của Chaigneau khi mới chỉ 17 tuổi. Và Hélène Barisy có cha là người gốc ở Groix còn mẹ là người An Nam, sau này trở thành người con lai đầu tiên được hay biết đến.
Titre: Être Tonkinoise - Être métis à la providence
Durée: 00:08:09   [00:18:03 > 00:26:12]
Genre: Extrait de récit de vie filmé
« La sœur supérieure m’a encore fait une réflexion sur un mot qui m’a échappé en annamite. Ce n’est pas que je ne connaisse pas le français, c’est que, de plus en plus souvent, c’est le mot annamite qui me vient en premier. Et elle ne m’aime pas non plus. Mais cela m’est égal parce que je n’ai pas envie de parler avec elle. D’ailleurs je parler avec personne ici. Sauf avec la petit Jeanne ; c’est la fille de la lingère : elle habite avec sa mère une petite chambre sous les combles. La première fois que je l’ai vue, c’est parce que j’avais laissé la porte de ma chambre entrouverte, alors elle a passé ça et m’a dit que j’avais de drôles de chaussures. C’étaient les pantoufles à bouts retournés qui m’ont été offerte par l’empereur Ming Mang avec une robe de brocart. Je sais bien que ce n’était pas seulement mes chaussures qu’elle trouvait bizarre, mais ma figure et toute ma personne, mais comme elle n’osait pas alors elle a dit : « Tu as de drôles de chaussures, toi ! » Je lui ai répondu que ce sont des chaussures de mon pays, que tout le monde en porte de semblables, même les petites filles comme elle. Elle a eu l’air étonné. Elle me dit ensuite qu’elle était née à Port Tudy, mais que depuis que son père était mort en mer, elle était venue vivre ici avec sa mère, à la Providence. Alors je lui dis que moi aussi autrefois, j’avais possédé une maison dans l’île, que j’avais héritée de mon père, mais que je l’avais vendue pour venir habiter ici, en ville. Je ne sais pas si elle m’a crue. Alors je lui dis que je m’appelle Hélène Barisy. Que mon père, qui était natif de Groix, s’appelait Laurent Estiennet Barisy. Et que ma mère était une annamite, une cochinchinoise comme on dit aussi. On m’appelle la Tonkinoise de l’île de Groix, mais ce n’est pas vrai, je ne suis pas Tonkinoise. Je suis pour moitié française, et pour moitié annamite. Ou si l’on préfère ni tout à fait française, ni tout à fait annamite. Peut que je ne suis ni l’une ni l’autre pour tout dire. Je suis comme on dit, une métisse. Métisse c’est le mot qu’on utilise en Amérique pour désigner les personnes qui sont nées de la rencontre entre les conquistadors espagnols et les femmes indiennes. Là-bas, en Amérique. Etre métis Etre métis, c’est se regarder dans la glace et chercher sa trace. L’arête du nez, la courbe du menton, le dessin de la lèvre, l’oblique du regard, la forme des sourcils, la saillie des pommettes l’implantation des cheveux. Qu’est ce qui nous vient d’Asie, qu’est ce qui nous vient de France ? Qu’est ce qui me reste de cette Nguyen thi Nghiêm, fille d’un petit mandarin de la province de Ha Tay qu’on avait marié à un français ? Je me demande qu’est-ce qu’elle avait pensé de ce mariage ? Rien du tout, peut-être, ici ou là-bas on ne choisissait pas son mariage. Mais quand même, un français ? Je me demande comment ils se sont trouvés, s’ils se plaisaient. Je ne sais pas, je lis dans les livres d’histoire qu’en réalité ils ne se plaisaient pas, ils se trouvaient moches, réciproquement moches… Qu’est ce qui me reste d’elle ? Quelque chose dans le regard, quelque chose dans le sourire. Un sourire qui flotte, irréel comme celui du chat de chester….ça me plait bien cette idée qu’il ne reste que le sourire… Un jour, dans la cour de l’école une petite fille m’a dit « c’est qui, le chinois qui vient te chercher à la sortie ». Je ne savais pas quoi répondre, je ne comprenais pas la question. Quel chinois ? J’aurais dû répondre, « c’est pas un chinois, c’est mon grand-père », mais je n’ai pas eu le réflexe. Et puis si ça se trouve, elle aurait alors demandé ; « mais comment ton grand père peut-il être chinois ? » C’est vrai, ça, comment pouvait-il être chinois ? Je lui aurais bien répondu « il est pas chinois, c’est pas de la Chine qu’il vient, c’est du Tonkin ! Le Tonkin, la province entre parenthèses, tu vois ? » Mais là, je suis certaine qu’elle aurait ricané : « Eh, mais le Tonkin, ce n’est pas une province de la France, c’est en Chine ! C’est une province de la Chine» C’est là, pour sûr, que je me serais embrouillée. « C’est une province de la France qui est en Chine, une province de la Chine de la France, une province de la France qui est en Chine ». Mais je sais bien que j’aurais dû lui répondre une seule chose : « C’est mon grand-père ». Juste ça. Mon grand-père. Un type au teint bistre qui était né en 1894 à Dap Co, province de Bac Ninh, protectorat du Tonkin. Oui, c’est comme ça qu’elle s’appelle la province de la France. Le Protectorat du Tonkin. » (Dominique Rolland)
Langue: Tiếng Việt
Từ điển: Con lai. Con lai, là nhìn vào gương và tìm dấu vết của mình. Sống mũi, đường cong của cằm, viền môi, cái nhìn xiên, hình dạng của lông mày, xương gò má nhô ra chân tóc. Những gì xuất phát từ Châu Á, những gì đến với chúng ta từ Pháp? Những gì đọng lại trong tôi về hình ảnh bà Nguyễn Thị Nghiêm, con gái của một viên quan nhỏ ở tỉnh Hà Tây mà đã được gả cho một người Pháp? Tôi tự hỏi cô nghĩ gì về cuộc hôn nhân này? không gì cả, có lẽ vậy, ở đây và ở đó người ta đã không chọn đám cưới của bà. Nhưng dù gì, còn có một người Pháp cơ mà? Tôi tự hỏi làm thế nào họ tìm gặp được nhau, nếu họ thích. Tôi không biết tôi đọc trong những cuốn sách một câu chuyện rằng trên thực tế họ không thích nhau, họ thấy mình đều xấu xí… Những gì tôi lưu lại trong tôi về người đàn bà này? Một cái gì đó trong ánh mắt, một cái gì đó trong nụ cười. Một nụ cười, trôi nổi, hư không, như con mèo sexte của Anh .... Tôi thích ý tưởng này rằng chỉ đọng lại một nụ cười ... Một ngày, trong sân trường, một em gái nhỏ nói với tôi "Anh ta là ai thế, cái người Trung Quốc đến tìm chị ở cổng trường?". Tôi không biết phải trả lời thế nào, tôi không hiểu câu hỏi. Mà người Trung Quốc nào? Lẽ ra tôi phải trả lời "Đó không phải là người Trung Quốc, đó là ông nội tôi," nhưng tôi đã không phản xạ như vậy. Đúng là, cô gái hỏi: "nhưng làm thế nào ông nội của bạn nó có thể là người Trung Quốc?. Tôi đã trả lời: "Đó không phải là người Trung Quốc, ông ấy không đến từ Trung Quốc mà từ Bắc Bộ! Bắc Bộ, «một tỉnh », em có biết không? "Tuy nhiên, tôi chắc chắn rằng cô ấy sẽ cười nhạo: « Vâng, nhưng Bắc Bộ không phải là một tỉnh của Pháp, đó là ở Trung Quốc! » Đó là một tỉnh của Trung Quốc, chắc chắn, tôi sẽ bị nhầm lẫn. "Nó là một tỉnh của Pháp mà lại ở Trung Quốc, một tỉnh của Trung Quốc ở Pháp, một tỉnh của Pháp ở Trung Quốc." Nhưng tôi biết rằng tôi chỉ nên trả lời một điều: "Đây là ông nội của tôi." Chỉ thế thôi. Ông nội của tôi. Ông da nâu, sinh năm 1894 ở Đáp Cầu, tỉnh Bắc Ninh, vùng bảo hộ của Bắc Bộ. Vâng, như thế, người ta gọi là một tỉnh của Pháp. Bảo hộ của Bắc Bộ.
Titre: Lettre du chasseur terrible
Durée: 00:04:10   [00:26:12 > 00:30:22]
Genre: Extrait de récit de vie filmé
« Lettre du chasseur terrible Oui, tout commence comme dans la chanson, c’est presque rien. Presque rien, un petit jeune homme, à la fin du XIXème siècle qui s’engage pour faire la conquête du Tonkin, il est Corse, Auvergnat, Franc-comtois, Breton. Il a 20 ans. Peut-être qu’il n’en reviendra pas. Peut-être qu’il mourra du choléra, du paludisme, du typhus, de la dysenterie, d’une de ces maladies qu’on attrape et dont on meurt avant même d’avoir combattu. Peut-être qu’il sera dévoré par un tigre, ou mordu par un serpent. Peut-être qu’il se noiera dans la rivière claire. Peut-être qu’il sera décapité par les pirates. Mais peut-être qu’il aura eu de la chance, qu’il sera blessé mais pas trop et qu’on l’affectera dans un poste tranquille. Alors il écrira au pays, à sa famille, à sa promise à ses amis… Lettre du chasseur terrible Mon cher Georges A la prise de la citadelle de Hué, j’ai connu des combats terribles et j’ai été blessé au pied gauche, rien de très grave heureusement, et du coup j’ai été affecté à Dong Hoi, qui se situe pas très loin de Hué, si tu te souviens. C’est un pays très calme, très joli, avec beaucoup de temples et de pagodes, car les gens sont très dévots et prient leurs génies de leur épargner les maladies et les calamités naturelles. Les indigènes ne nous font pas de problèmes comme dans le nord. Ce qu’il y a de bien, c’est qu’il est facile de se trouver une petite épouse, pour tenir la maison, faire la cuisine, et faire aussi le reste, si tu vois ce que je veux dire…Certaines seraient même très jolies, malgré leur manie de se teindre des dents en noir ! L’avantage, c’est que tu paies une certaine somme au père (attention, il faut marchander, sinon tu te fais avoir !) et après, si tu n’en veux plus, tu la renvoies et on te rend l’argent ! C’est aussi simple que cela. Quelle belle coutume !!Le seul problème, c’est quand elles te font des petits. Moi il m’en est venu un qui doit avoir presque un an maintenant, un petit tout jaune mais avec un grand nez qui fait qu’on le remarque tout de suite. Evidemment, je ne l’ai pas déclaré, que veux-tu que j’en fasse quand je rentrerai en France ! Surtout ne dis rien à personne, tu imagines l’histoire que ça ferait au pays !! Ces petits, quand c’est petit, ça ne compte presque pas, c’est comme des animaux, des chiots, ils sont collés contre leurs mères, toujours, avec un petit museau jaune et trois touffes de cheveux qu’on leur laisse sur le crâne. On ne peut même pas penser qu’ils sont à soi. C’est quand ça devient grand, qu’on les regarde, qu’ils vous regardent…qu’est ce qu’on peut faire ? Il y a un employé des douanes, dans le district, il a épousé la mère, reconnu trois enfants. C’est une folie, comment peut-on faire ça ? Moi, je ne pourrais pas. Lui, il va rester ici toute sa vie, maintenant, il a plus le choix. Son fils s’appelle François-Duc, François Duc Lambert, il l’a envoyé à l’école, c’est un beau garçon qui parle bien français, et qui maintenant fait des études à Hanoi. Quand je le vois, ça me fait bizarre. Il parle comme une personne bien éduquée… J’ai su que ton régiment avait été affecté à Madagascar et c’est là que te joindra ma lettre. J’espère que tout va bien là-bas et que tu te plais à Diego Suarez. Il paraît que les filles sont jolies, mais attention à ne pas faire un petit négro ! Je te serre la main, écris moi de temps en temps, ça me fera toujours plaisir. Ton ami Antoine. » (Dominique Rolland)
Langue: Tiếng Việt
VII. Bức thư gửi về từ chiến trường khốc liệt Đúng vậy, tất cả bắt đầu như một bài hát, gần như không có gì. Gần như không, một chàng trai trẻ, vào cuối thế kỉ 19 đã tòng quân tham gia chiến trường ở Bắc Kỳ, cậu ta là Corse, Auvergnat, Franc-comtois, Breton. Cậu ta mới 20 tuổi. Có thể cậu ta sẽ không quay về được nữa. Có thể cậu ta sẽ chết vì dịch tả, vì sốt rét, vì chấy rận, vì kiết lị, một trong những căn bệnh mà người ta hay mắc phải, và có thể cậu ta còn chết trước cả khi tham chiến. Cũng có khi cậu ta lại bị hổ vồ, hay bị chết vì rắn cắn. Hay lại bị chết đuối. Hoặc có khi lại bị cướp biển chặt đầu. Nhưng biết đâu đấy cậu ta lại gặp may, cậu ta có thể bị thương nhưng không quá nặng, hay lại được giữ một vị trí nhàn nhã. Vậy nên cậu ta sẽ viết thư gửi về nước, gửi về cho gia đình, cho bạn bè và cho người con gái đã hứa hôn cùng mình. Gửi Georges yêu quý, Trước khi chiếm được kinh thành Huế, mình đã trải qua nhiều trận đánh khốc liệt và mình bị thương ở chân trái, nhưng may mắn là không có gì quá nghiêm trọng ; vậy nên mình được chuyển ra Đồng Hới, cách Huế không quá xa, chắc cậu còn nhớ. Đây là một vùng đất rất đẹp và thanh bình, có nhiều chùa chiền, miếu mạo ; bởi lẽ người dân ở đây rất sùng đạo, họ thường cầu Trời khấn Phật để tránh đi bệnh tật và thiên tai. Dân bản xứ ở đây cũng không hay gây chuyện cho tụi mình như ở phía Bắc. Có một cái rất hay ở đây, đó là dễ tìm được một cô vợ, để giữ nhà, để làm bếp cũng như là làm tất cả những việc còn lại, chắc là cậu hiểu những gì mình nói… Một vài cô gái ở đây rất xinh, kể cả khi họ có thói quen kỳ quặc là nhuộm răng đen ! Cái lợi nữa là cậu chỉ phải trả một khoản tiền nhất định cho người cha (chú ý, phải mặc cả nếu không là cậu tự giễu cợt chính mình đấy !) và sau đó, khi cậu không muốn nữa, cậu trả lại cô gái và người ta sẽ trả lại tiền cho cậu ! Đơn giản như vậy đó. Cái tục lệ đến là hay !! Vấn đề duy nhất, đó là khi những cô gái đó sinh cho cậu những đứa nhóc. Mình đây, mình đã có 1 đứa nhóc như vậy tính đến bây giờ là gần 1 tuổi, 1 đứa nhóc da vàng hoàn toàn nhưng lại có cái mũi cao, khiến nó luôn bị để ý ngay tức thì. Rõ ràng là mình không công nhận thằng bé, liệu cậu có muốn là mình sẽ làm điều đấy trong khi mình sẽ quay lại Pháp ?! Trên hết là không nói với bất kỳ ai, cậu hình dung được câu chuyện đang xảy ra ở vùng đất này đấy. Những đứa nhóc này, khi bé, thì cũng chả có gì đáng ngại, chúng như những con vật nuôi, những chú cún con lúc nào cũng bám dính lấy mẹ, với cái khuôn mặt nhỏ nhắn da vàng cùng 3 chỏm tóc trên đầu. Chính người ta cũng không thể nghĩ là những đứa bé đó thuộc về họ. Nhưng rồi đến khi chúng lớn, khi người ta nhìn chúng, khi chúng nhìn chúng mình… Liệu ta biết phải làm gì đây ? Có một người làm công ở hải quan trong quận, ông ấy đã lấy một bà mẹ đã có 3 đứa con. Đó là một điều điên rồ, làm sao người ta có thể làm thế được nhỉ ? Mình là mình chịu. Bây giờ ông ta cứ ở như vậy suốt cả đời, ông ý cũng chả có lựa chọn nào khác. Con trai ông ấy tên là François-Duc, François Duc Lambert, ông ta đã gửi cậu bé đến trường. Đó là 1 cậu bé dễ thương, nói tiếng Pháp rất tốt và hiện đang học ở Hà Nội. Khi mình gặp nó, nó khiến mình ngạc nhiên. Cậu bé nói chuyện như một người được giáo dục tốt vậy… Mình biết là trung đoàn của cậu đã chuyển đến Madagascar và ở nơi đó, cậu sẽ nhận được thư của mình. Mình mong là mọi chuyện ở đó vẫn sẽ ổn và cậu làm vui lòng được Diego Suarez. Con gái ông ta hình như xinh lắm đấy, nhưng mà cẩn thận, đừng có mà đẻ ra 1 thằng cu da đen đấy ! Siết chặt tay người anh em, thi thoảng viết thư cho mình nhé, mình sẽ lấy làm vui vì điều đó. Bạn của cậu, Antoine.
Titre: Reconnaissances - "Arrache-toi"
Durée: 00:07:12   [00:30:22 > 00:37:34]
Genre: Extrait de récit de vie filmé
« Oui, ça changeait tout un père qui vous reconnaissait devant l’état civil. Et ils n’étaient pas si nombreux à le faire, parce que deux ou trois enfants de sang mêlé, au retour en France, c’était plutôt encombrant. Quant à ramener la congaie, on n’y pensait même pas ! Mon arrière-grand-père, l’alsacien, il avait reconnu trois enfants et épousé la mère. Peut-être parce que lui-même était un enfant naturel, c’était le fils d’une lingère et d’un architecte parisien. C’est peut-être pour ça qu’il a reconnu ses enfants. Un jour, il a dû regarder son fils, un gamin de dix ans qui ne parlait pas français et qui était élevé dans la famille annamite de sa mère, et se dire qu’il fallait faire quelque chose, Et faire quelque chose, ça voulait dire le déclarer à l’état civil, et puis l’envoyer à l’école pour qu’il échappe à son destin d’indigène, pour qu’il devienne quelqu’un. Mais ces reconnaissances étaient plutôt rares et les métis abandonnés de plus en plus nombreux. On ne les aimait pas. Enfant on les prenait en pitié, mais adultes, ils dérangeaient. C’était un vrai problème car, bien que de sang français, ils étaient de statut indigène, pas citoyens ! On disait d’eux qu’ils héritaient de toutes les tares, du côté français comme du côté annamite, ça faisait beaucoup. Mais chez les vietnamien, on ne les traitait pas beaucoup mieux : on les appelait « tête de poulet cul de canard » Et d’un côté comme de l’autre, on les soupçonnait de toutes les traitrises. Mais si l’on réfléchit bien, comment pouvait-il en être autrement ? Dans une situation coloniale, si on était fidèle à une partie de soi-même on était traitre à l’autre, forcément. Arrache-toi L’enfance d’un métis est faite de désirs diffus, contradictoires. S’assimiler au côté du père, se fondre du côté de la mère. Choisir : impossible. On ne choisit pas d’être d’un côté ou de l’autre. On négocie. S’assimiler au père, au dominant, à celui qui a le pouvoir. C’est une évidence, si l’on veut sauver sa peau. Peau blanche, peau jaune, laquelle des deux ? Le désir ? Le désir, c’est autre chose, c’est se fondre dans la mère, dans la douceur, dans la tendresse, dans l’odeur suave de sa poitrine, dans la douceur de ses bras. Se couler dans sa voix, dans le miel de sa voix, s’endormir contre son dos, s’endormir contre son flanc Mais si tu veux t’en sortir, petit enfant de deux sang, arrache-toi à la mère, arrache toi à ses comptines et ses berceuses, arrache toi à la tiédeur de son cou, arrache toi à ses mains caressantes, arrache-toi, arrache-toi. Ne regarde pas en arrière, franchis la porte de l’école, la porte du collège, va-t’en, va-t’en, sois docile à la loi du père, sois docile à la loi des blancs. Sois, sous le regard du père, studieux et réfléchi, intelligent et obstiné, sois la fierté du père, sois la fierté de l’œuvre civilisatrice. Sois à leur image. Conforme. Arrache toi, arrache toi au soleil implacable et à la boue des rizières, arrache toi. Arrache-toi aux odeurs de cuisine et à la forme accroupie de ta mère. Arrache-toi aux pinceaux de calligraphes. Arrache-toi au cerf-volant de papier et aux courses sur la digue. Arrache-toi. Arrache-toi. Franchis le portail du collège, franchis le portail du lycée. Arrache-toi à la pêche aux grenouilles, arrache-toi à la chasse aux oiseaux. Arrache-toi à l’or des pagodes, arrache-toi à l’odeur des encens Arrache-toi aux génies cachés dans les racines du banian Arrache-toi, arrache-toi Deviens l’autre. Deviens le fils du père. Marche comme lui en relevant la tête et en redressant le dos, tu es le fils du maître. Enfile des costumes et des chemises et des cravates et des chaussures cirées. Marche comme lui en assurant ton pas. Ne détourne pas le regard, garde tes yeux à l’horizontale, tu es le fils du blanc. Arrache-toi. Arrache-toi aux tombes des ancêtres dans les rizières. Arrache-toi à leurs os. Arrache-toi à la glaise. Arrache-toi à l’ombre fraîche des maisons. Franchis la porte du lycée, franchis la porte de l’université Arrache-toi Arrache-toi à la fumée bleue des autels. Ne regarde pas en arrière, arrache toi. T’es un chanceux, un reconnu, un légitime, un déclaré. Un chanceux, t’es tombé sur le bon père : celui qui fait ce qu’il faut, qui te donne un nom, une citoyenneté, un statut, une existence. Alors ne regarde pas en arrière, arrache toi Tu as le nom, tu as les papiers, tu as l’adresse dans le quartier européen, tu as les diplômes, tu as tout ce qu’il faut pour être comme eux. » (Dominique Rolland)
Langue: Tiếng Việt
Type: Traductions littérales
VIII. Những sự thừa nhận Quả vậy, mọi thứ đã làm thay đổi hoàn toàn người cha, người đã nhận nuôi các bạn một cách hợp pháp như trong hộ tịch. Những đứa trẻ không quá đông đến mức để lo giấy tờ, vì 2 hay 3 đứa nhóc mang dòng máu lai, quay trở về Pháp, quả thật khá là rềnh rang. Ngay cả việc dẫn về người con gái, chính họ cũng chả nghĩ đến! Cụ tôi, một người vùng Alsace, đã nhận nuôi 3 đứa trẻ và cưới mẹ của chúng. Có thể bởi vì, cụ là một đứa trẻ bản xứ, con trai của người phụ nữ giặt ủi đồ với một kiến trúc sư người Paris. Có thể cũng chính vì về mà cụ mới nhận nuôi những đứa trẻ kia. Rồi một bữa, khi cụ phải trông con trai mình, một cậu nhóc 10 tuổi không nói được tiếng Pháp, được nuôi nấng trong một gia đình người An Nam của mẹ nó; cụ đã tự nhủ rằng cần phải làm một cái gì đó. Và làm một cái gì đó ở đây có nghĩa là đi kê khai hộ tịch cho đứa bé, rồi gửi nó đến trường để nó thoát khỏi thân phận một người bản địa và để nó trở thành một người khác. Nhưng việc nhận nuôi này khá là hiếm, những đứa con lai bị bỏ rơi ngày càng nhiều. Người ta không có cảm tình với chúng. Những đứa trẻ "thuần chủng" khác, tỏ rõ sự thương hại với lũ trẻ không được may mắn này; trong khi người lớn lại không như vậy, họ làm tổn thương chúng. Đây là một vấn đề thực sự, bởi lẽ dù mang dòng máu Pháp, chúng vẫn được coi là người bản địa, song không được công nhận là những công dân. Người ta nói rằng những đứa trẻ này "thừa hưởng" tất cả những tật xấu từ phía Pháp cũng như là phía An Nam, rất nhiều. Đối với người Việt Nam, họ cũng chả đối xử tốt đẹp hơn với chúng. Họ gọi những đứa trẻ này là "đầu gà đít vịt". Dù là chuyện nọ hay chuyện kia, họ luôn nghi ngờ chúng như thể những kẻ gian trá. Nhưng nếu người ta suy nghĩ kỹ hơn, liệu chuyện có thể khác đi thế nào? Trong thời kỳ thuộc địa, nếu người ta trung thành với một phần nguồn gốc bên trong mình, có nghĩa là họ tự phản bội lại chính phần còn lại của mình, chắc chắn vậy Tuổi thơ của một đứa trẻ con lai là « hiện thân » của những ước ao xa vời, cũng như đầy mâu thuẫn. Mang dáng vẻ từ phía cha, nhưng lại được hòa trộn bởi dòng máu mẹ. Lựa chọn : Điều bất khả thi. Họ không có quyền lựa chọn được giống như người này hay người kia. Họ buộc phải « thương lượng ». Mang những nét nổi trội của cha, người có uy hơn. Đó là điều hiển nhiên, nếu như ta muốn giữ màu da của mình. Da trắng, da vàng, màu nào trong 2 màu da đó ? Ước muốn ư ? Ước muốn lại là thứ khác, đó là được hòa trộn trong dòng máu của mẹ, trong sự nhẹ nhàng, âu yếm, trong mùi thơm dịu ngọt của bầu sữa mẹ, trong vòng tay êm ái của mẹ. Được lặng lẽ đắm chìm trong giọng nói của mẹ, trong tiếng nói ngọt ngào từ mẹ ; được thiếp đi trên lưng mẹ, thiếp đi trong vòng eo mẹ. Nhưng nếu bạn muốn thoát ra khỏi thân phận đó, thân phận một đứa con lai mang 2 dòng máu, vậy hãy rời xa khỏi mẹ, rời bỏ những câu hát ru của mẹ, rời xa hơi ấm vòng tay mẹ, xa khỏi những sự vuốt ve âu yếm đó. Hãy rời xa, rời xa… ! Đừng nhìn lại phía sau, hãy bước vào cánh cửa nhà trường, hãy đến đó, đến đó ! Hãy ngoan ngoãn theo những nề nếp của cha, những phép tắc của những người da trắng. Dưới cái nhìn của cha, hãy chăm chỉ và biết suy nghĩ, thông minh và cần cù, hãy trở thành niềm tự hào của cha, niềm tự hào về một tác phẩm « khai hóa ». Hãy trở thành hình ảnh cho họ, thật nguyên bản. Hãy rời xa, rời xa ánh mặt trời gay gắt, xa những cánh đồng bùn đất, hãy đi xa khỏi đó. Hãy quên đi mùi khói bếp, cái dáng ngồi khom khom của mẹ bạn. Hãy rời xa bút lông nghiên mực, rời xa những cánh diều, xa những phiên chợ triền đê. Hãy rời xa, hãy rời xa ! Hãy bước vào cánh cửa trung học, cánh cổng đại học rộng mở. Quên đi những lần đi câu ếch, quên đi những buổi đi săn chim. Quên đi những ngôi chùa vàng, quên đi mùi thơm nhang khói. Rời xa những lần trốn tìm bên gốc chuối. Hãy rời xa, hãy đi xa ! Hãy trở thành một người khác ! Trở thành người con trai của cha ! Hãy bước đi với tấm lưng thẳng và cái đầu ngẩng cao, bạn là con trai của thầy giáo ! Đóng bộ chỉnh tề với com-plê, áo sơ mi, ca-vát cùng đôi giày đánh xi. Hãy bước đi như thể có ông ý nâng đỡ bạn từng bước. Đừng có lảng tránh ánh nhìn, hãy giữ cho đôi mắt luôn hướng về phía chân trời, bạn là con trai của một người da trắng cơ mà ! Hãy rời xa, rời bỏ sự ngã xuống của những người đi trước trên những cánh đồng. Rời xa tấm lưng của họ. Rời xa đất sét và rời xa bóng mát nơi hiên nhà ! Bước vào phổ thông, bước vào đại học ! Hãy đi xa ! Hãy rời xa làn khói xanh quanh bàn thờ ! Đừng nhìn lại phía sau, hãy rời xa ! Ban là một người may mắn, là một người được công nhận, là một người hợp pháp và công khai. Là người may mắn, bạn có người cha tuyệt vời : người sẽ làm những gì phải làm, người sẽ cho bạn một cái tên, quyền công dân, một cương vị và sự tồn tại. Vậy nên, đừng nhìn lại phía sau, hãy rời xa ! Bạn có một cái tên, có giấy tờ, có trú chân bên châu Âu kia, bạn có bằng cấp, có tất cả những gì cần để trở thành những người như họ, người da trắng. Bạn, một cậu con trai may mắn, sẽ trở thành thầy giáo dạy toán, một thành công thực sự. Bạn sẽ bận bộ đồ smocking, đầu chải gôm. Bạn sẽ đường hoàng có mặt trong những lễ hội, buổi khiêu vũ hay những nghi lễ của họ. Và rồi, cậu bé hiền lành da trắng có trách nhiệm, bạn sẽ được « công nhận ». Những người khác, kém may mắn hơn, con trai của những người hầu gái, con trai của phận gái bán thân, những cậu nhóc không tên - không giấy tờ ; chúng sẽ phải đến cô nhi viện. Những kẻ con hoang có dòng giống lai, với họ, bạn sẽ chả hơi đâu mà tính đến
Titre: Métis, dictionnaire
Durée: 00:03:09   [00:37:35 > 00:40:44]
Genre: Extrait de récit de vie filmé
« Métis, métis, c’est un joli mot, c’est sûr. On le voit fleurir partout maintenant… on parle de musique métisse, de mode métisse, de cuisine métisse, à force ça ne veut presque plus rien dire. Il faut retourner aux origines, au dico, voir qu’est-ce qu’ils en disent… METIS, ISSE adj. 37 1°) qui est mélangé, qui est fait moitié d’une chose et moitié d’une autre- Mod : tissu métis, toile métisse dont la chaîne est en coton et la trame en lin. 2°) de métice, 1615, du portugais: qui est issu du croisement de races, de variétés différentes dans la même espèce. Dont le père et la mère sont de races différentes. Enfant métis. Métis né d’un noir et d’une blanche (ou d’une noire et d’un blanc) (voir mulâtre), d’un européen et d’une asiatique (v.eurasien)., v. quarteron. Descendant de métis et d’une race pure V aussi hybride, bâtard. Ant. Pur Ant. De pur: impur, composite, corrompu, mauvais, altéré. METISSAGE, 1° croisement, mélange de race. Les racistes luttent contre le métissage. Zoologique et botanique: hybridation. Antonyme pureté " de la race", sélection. METISSER, verbe croiser des individus de races différentes. Chien métissé, bâtard Exemple Métisser des lapins des plantes. Clément dessine des lapins Quoi ? Métisser des lapins des plantes ? Qu’est-ce que ça veut dire métisser des lapins des plantes ? Métisser des lapins, virgule, des plantes, peut-être. C’est à dire, métisser des lapins entre eux, entre différentes sortes, espèces de lapins, d’un côté et différentes espèces de plantes de l’autre. Début guimbarde C’est idiot. Bien sûr que c’est idiot, mais quand même moins que métisser des lapins et des plantes ensemble. Là c’est carrément me délire surréaliste. Ça fout en l’air tous les travaux de la génétique, ça… Métisser des lapins et des plantes. Qu’est-ce que ça donnerait un hybride de lapin et de plante ? Un lapin qui naîtrait avec une carotte déjà greffée entre les dents ? Ou un lapin de noël : il naitrait tout vert avec des guirlandes et des boules qui brillent. Ou un lapin parasol, peut-être ? en Provence pratique pour s’abriter du soleil c’est pratique, ça fait de l’ombre et ça laisse pas des aiguilles partout quand on s’assied. Métisser des lapins et des plantes, quelle drôle d’idée, quand même ; quel drôle d’exemple… Toi, le fils chanceux tu deviendras professeur de mathématiques, une vraie réussite. Tu mettras un smoking et de la gomina dans tes cheveux. Tu iras à leurs fêtes, à leurs bals, à leurs cérémonies Alors petit enfant de gentil blanc responsable, tu seras sauvé On ne dira pas bâtard dans ton dos, non, tu es le vrai fils du père. Les autres, les pas chanceux, les fils de servantes, les fils de marchandes et les fils des putains, les fils sans nom, et les fils sans papier, iront à l’orphelinat. S’ils ont encore un tout petit peu de chance, ils iront à l’orphelinat. La sale race de bâtard de sang-mêlés. Avec qui tu ne voudrais pas qu’on te confonde. » (Dominique Rolland)
Langue: Tiếng Việt
IX. Con lai -Từ điển « Con lai » là từ rất đẹp. Từ này được dùng nhiều như « nhạc lai », « mốt lai », « ẩm thực lai ». Tuy nhiên, chúng ta cần tra lại gốc trong từ điển để xem những từ này có nghĩa gì. « Con lai » nghĩa là pha trộn nửa này với nửa kia : thảm lai, vải lai với sợi dọc bằng coton, sợi ngang bằng lanh « Métice » trong tiếng Bồ Đào Nha bắt nguồn từ sự pha trộn các chủng tộc. Đó có thể là con lai da đen, lai châu Âu-Á hoặc lai một phần tư Ví dụ động từ « lai » : lai thỏ với thực vật. Thật là khôi hài khi nói vậy. Điều đó dường như hoang tưởng.
Titre: 1945
Durée: 00:02:41   [00:40:45 > 00:43:26]
Genre: Extrait de récit de vie filmé
« 1945. De toutes façons, et heureusement, ça n’a pas duré très longtemps la colonisation. Dans les années 40, c’était déjà fini Le 9 mars 1945 ce fut le coup de force des japonais. Ensuite il y eut ce qu’on découvrait des annamites, de tout ce peuple que l’on côtoyait depuis toujours et qu’on ne comprenait plus sans se demander vraiment comment il se faisait qu’on ne l’ait jamais compris. Des ingrats, disaient-ils. Comme ils auraient parlé d’enfants qui auraient mal tourné. Comme si c’était l’ingratitude qui faisait agir les révolutionnaires. Les français de là-bas ne se pensaient pas comme des conquérants mais comme des civilisateurs. S’ils s’étaient pensés comme des conquérants, tout aurait été plus simple, car ils auraient alors sans doute admis que des peuples conquis se révoltent et essaient de se libérer. Mais que des peuples que l’on est venu éduquer, civiliser, pour lesquels on s’est sacrifié, des gens que l’on aime comme ses propres enfants veuillent s’affranchir de cette trop aimante tutelle, cela ne pouvait pas s’appeler une révolution. Juste une révolte d’enfants, pas une révolution. Ils nous aimaient répétaient ils incrédules. Ils nous aimaient ! Et cela même n’est pas vraiment contestable. Enfin, ils n’avaient pas de haine, ce n’est pas cela, ce n’est pas que cela. En une même personne pouvait follement coexister la haine et l’admiration, l’affection et le ressentiment. Ils pouvaient détester ceux qu’ils aimaient et aimer ce qu’ils détestaient. Parce que la colonisation, elle était faite comme ça : d’une imbrication de sentiments contradictoires vis-à-vis de ceux qui s’étaient rendus maîtres du pays. On ne peut pas penser à eux d’une seule manière. Il y a mille manières de penser à eux. C’est pour ça que c’était si compliqué, si difficile. » (Dominique Rolland)
Langue: Tiếng Việt
X. 1945 Thật may là chế độ thực dân không kéo dài. Vào những năm 40, thực dân đô hộ đã chấm dứt. Ngày mồng 9 tháng 3, lực lượng Nhật nổi dậy. Sau đó, người ta khám phá ra những người An Nam mà từ lâu vẫn sống cùng dân tộc này mà không hiểu tại sao không tự hỏi dân tộc này hình thành như thế nào. Họ nói đấy là những kẻ bội bạc, vô ơn khiến những nhà cách mạng vùng lên đấu tranh. Những người Pháp ở đó không bị coi là những kẻ đi chinh phục mà như những người khai hóa văn minh. Nếu như nghĩ là những kẻ hiếu chiến thì sẽ đơn giản hơn vì họ chắc chắn sẽ chấp nhận rằng những người dân bị đô hộ nổi dậy và tự giải phóng. Tuy nhiên, những dân tộc được giáo dục và khai hóa muốn giải thoát khỏi sự giám hộ « tử tế » này, đó không thể gọi là một cuộc cách mạng mà chỉ là sự nổi dậy của trẻ con. Những người không tin đạo quý chúng ta. Họ không đố kỵ. Trong cùng một con người, vừa tồn tại sự ngưỡng mộ, trìu mến và sự oán hận. Ghét những người mà họ yêu, yêu những người mà họ ghét. Bởi vì chế độ thực dân đô hộ là sự nhập nhằng những tình cảm đối lập đối với những người làm chủ nước này. Thật phức tạp khi người ta có nhiều cách nghĩ về họ.
Titre: Tonkinoise à la Providence 2
Durée: 00:06:02   [00:43:26 > 00:49:28]
Genre: Extrait de récit de vie filmé
« La petite Jeanne, je la laisse fouiller. Elle ouvre les coffres de santal et sort des bols de porcelaine, des baguettes d’argent et des robes brodées. Je lui explique que les baguettes, c’est pour manger et elle me demande si pour manger nous n’avons point de fourchettes dans notre pays et je lui dis que non, nous n’avons point. Je lui montre comment tenir les baguettes entre les doigts et porter le bol à sa bouche mais comme nous n’avons pas de j’émiette un bout de pain, et nous faisons semblant. Elle aime regarder les bols et les assiettes de porcelaine car il y a des paysages dessinés avec des montagnes et des rivières, des maisons et des barques et aussi de petits personnages. Elle montre une maison, me demande si c’est la mienne. C’est juste un dessin, je lui dis, ce n’est la maison de personne. Elle me demande pourquoi les toits sont retroussés eux aussi, comme tes pantoufles, est ce que c’est une mode de retrousser toutes les choses ? Je ne sais pas, je n’ai pas de réponse, je n’avais jamais remarqué. Je lui parle de la maison que nous avions sur le canal de Phu Cam, et alors il me semble dans mes paroles entendre le bruit la pluie le long des murs, très distinctement et aussi la voix des écoliers qui récitent leurs leçons sous la véranda. Et je pense à l’odeur des frangipaniers. Elle me demande le nom des fleurs dans le jardin, et je les énumère comme si je priais. Pivoine, frangipane, orchidée, ibiscus… je dis leur forme, leur couleur, leur parfum, pour chacune d’entre elle je le dis. Je lui raconte aussi les jeux que nous inventions dans le jardin quand nous étions enfants. Nous appelions cela « jouer aux français ». Je lui dis que nous devions être bien ridicules, car nous ne savions rien des français, c’était notre imagination.. Mais quand nous étions encore là-bas, il nous semblait qu’il n’y avait rien de plus enviable qu’être français. « Est-ce que les maisons des français sont plus belles que les nôtres ? » demandaient nos amis les fils de mandarins. « Bien plus belles, répondions-nous avec arrogance, et ils se sentaient vexés. Aujourd’hui, je me demande ce qu’ils penseraient s’ils me voyaient, regarde comme cette pièce est petite et fermée ! Je lui dis tu sais, Jeanne, et elle pense que je saute du coq à l’âne, tu sais, Jeanne, Monsieur Chaigneau était un homme triste. Même à Hué, quand je l’entendais rire avec ses amis Vannier et de Forçantz, même quand je voyais ses yeux s’allumer en parlant avec notre maître en caractères, c’était un homme triste. C’est cette tristesse qu’il nous a transmise à nous tous ses enfants, car même si j’ai été son épouse, je me considère comme son enfant. Cette tristesse nous vient sans doute de ce que nous n’avons pas de place, ni dans ce monde ci, ni dans l’autre. Nous ne sommes ni tout-à-fait français, ni tout à fait cochinchinois, et le pire, tu vois, c’est que nous n’avons même pas idée de ce que nous pourrions être d’autre. » (Dominique Rolland)
Langue: Tiếng Việt
XI. Cô gái Bắc Kỳ Tôi để cô bé Jeanne lục tìm. Cô mở hòm gỗ hương và lấy ra những cái bát sứ, đũa bạc và váy thêu. Tôi giải thích cho cô bé những cái đũa là dùng để ăn. Nó hỏi tôi rằng ở nước mình không có nĩa sao. Tôi trả lời là chúng ta không có. Tôi chỉ nó cách cầm đũa giữa các ngón tay và giữ bát ở miệng, kiểu như chúng ta bẻ vụn bánh mì, làm tương tự như thế. Cô bé thích ngắm những cái bát, đĩa sứ vì có hình phong cảnh non nước, những ngôi nhà, những chiếc thuyền và những hình người nhỏ. Nó chỉ tôi một ngôi nhà và hỏi có phải nhà tôi không. Tôi nói đó chỉ là một hình vẽ, không phải nhà của ai cả. Nó lại hỏi tôi tại sao mái nhà hình xắn như những chiếc giày pantup, có phải là mốt không. Tôi không rõ, tôi không có câu trả lời, tôi chưa bao giờ để ý. Tôi kể cho nó ngôi nhà của chúng tôi ở trên kênh Phù Cẩm. Dường như có tiếng mưa dọc tường trong những lời nói của tôi. Và giọng học sinh đọc bài dưới hiên nhà. Tôi hồi tưởng về mùi cây đại. Cô bé hỏi tôi những bông hoa trong vườn và tôi liệt kê ra như thể tôi đang cầu nguyện. Cây mẫu đơn, cây đại, cây lan… tôi nói về kiểu dáng chúng, màu sắc, hương thơm. Tôi kể cũng kể những trò chơi của chúng tôi trong vườn khi chúng tôi còn là trẻ con. Chúng tôi gọi là « chơi kiểu người Pháp ». Tôi nói với nó rằng chúng tôi lúc đó trông rất khôi hài vì chúng tôi đâu biết người Pháp, chỉ là trí tưởng tượng. Tuy nhiên, khi chúng tôi còn ở đó, dường như chả có gì mong muốn hơn là trở thành người Pháp. Bạn bè tự hỏi liệu những ngôi nhà người Pháp có đẹp hơn nhà chúng tôi không. « Tất nhiên là đẹp hơn rồi », chúng tôi trả lời một cách ngạo nghễ và chúng bị mếch lòng. Bây giờ tôi tự hỏi chúng sẽ nghĩ gì khi nhìn thấy tôi, tôi nhìn như một vở căn phòng nhỏ và khép kín. Tôi nói với Jeanne rằng ông Chaigneau là một người đáng thương. Ngay cả khi ở Huế, khi tôi nghe ông cười cùng những người bạn là Vannier và Forçantz, khi tôi nhìn ánh mắt ông sáng lên nói rằng đó là một người đàn ông tội nghiệp. Nỗi buồn của ông ngấm cả vào chúng tôi, các con ông vì ngay cả nếu tôi là vợ ông, tôi cũng bị coi như con ông. Chúng tôi không hoàn toàn là người Pháp, cũng không hẳn là người miền Nam Việt Nam và tệ hơn nữa là chúng tôi không tưởng tưởng ra mình có thể là ai khác nữa.
Titre: Mon grand-père
Durée: 00:03:25   [00:49:28 > 00:52:53]
Genre: Extrait de récit de vie filmé
« Mon grand-père ne parlait jamais de son enfance, ni de son adolescence. Il ne racontait jamais d’anecdote, ne parlait pas de son père, ni de sa mère. En fait, il ne parlait pas de lui. C’était cela, son silence. Un jour seulement, je me souviens qu’il m’avait dit, en me montrant sur l’écran en noir et blanc de la télévision le visage rond d’un général vietnamien : « tu vois, celui-là, il était toujours premier en mathématiques ». C’était le général Giap, le vainqueur de Dien Bien Phu, qu’il avait eu comme élève à Hué, au collège Quoc Hoc, vingt-cinq ans plus tôt. Et puis un autre jour, il m’avait dit, avec une grande intensité : « tu sais, minh, ça veut dire clarté, lumière ». je ne sais pas pourquoi il avait dit ça. Peut-être parce qu’à la même époque, les français faisaient rimer vietminh avec vermine. Ils disaient « vietminh la vermine, vietminh la vermine ». C’est peut-être pour ça. Rien de plus, non. Je ne me souviens de rien d’autre. Sur lui les choses glissent et rien ne peut l’atteindre, on ne peut pas le faire dévier de sa route, le détourner de ses pensées, il est impénétrable. C’est ce que les gens disaient de lui, même longtemps après sa mort. Mais moi quand j’avais six ans, sept ans, dix ans, je ne le trouvais pas bizarre, ni impénétrable, ni même chinois. C’était mon grand-père, juste mon grand-père, un grand père comme les autres grands-pères, je pensais. Je ne voyais pas sa différence. Mais aujourd’hui, avec le temps qui a passé, cette différence m’est très évidente, à cause de cette façon assez asiatique qu’il avait de sembler toujours peu concerné, toujours un peu à côté des choses. Mais ce n’était pas de l’indifférence, non. C’était juste du silence. Du silence. J’ai compris qu’une identité métisse, ça commence parce qu’elle est tuée. » (Dominique Rolland)
Titre: Avion 2
Durée: 00:05:29   [00:52:53 > 00:57:14]
Genre: Extrait de récit de vie filmé
« L’avion descend sur la ville, on distingue déjà les rizières. Je reviens au Tonkin. Oui, je dis toujours que je reviens. Quelqu’un s’était étonné, quand je racontais mon premier voyage de ce que je puisse utiliser ce verbe, revenir, pour parler d’un pays où je n’avais jamais été, où je n’avais jamais vécu. Pourtant, ce n’est pas un lapsus, c’est bien le verbe revenir, qui convient. Parce que revenir, c’est comme revenir sur ses pas. On met beaucoup de temps à comprendre, toute une vie parfois, parce qu’on pense que ce sang d’asiate s’est dilué dans le sang des autres, et que l’histoire qui nous a produits, l’histoire coloniale, c’est de l’histoire ancienne. Et puis un jour, on prend un billet d’avion… » (Dominique Rolland)
Langue: Tiếng Việt
XIII. Máy bay 2 Máy bay hạ cánh xuống thành phố, người ta nhận ra những cánh đồng lúa. Tôi trở về Bắc Kỳ. Ai đó ngạc nhiên khi tôi kể về chuyến đi đầu tiên của tôi mà dùng từ « trở lại » để nói về một đất nước mà tôi chưa bao giờ ở đó. Dẫu vậy, đó không phải là lỗi lầm, đó là động từ « trở lại » mà dùng thích hợp trong hoàn cảnh này. Vì, « trở về » có nghĩa như trở lại những dấu chân xưa. Người ta mất nhiều thời gian để hiểu, đôi khi là cả một cuộc đời vì người ta nghĩ rằng dòng máu gốc châu Á này pha trộn trong dòng máu khác và rằng lịch sử mà chúng ta đã tạo ra, lịch sử thực dân, là một câu chuyện cũ. Và một ngày nào đó, ta đặt vé máy may…

13 chapitres.
  • Extrait de récit de vie filmé. « Parfois, parfois, je me sens traversée d’une angoisse dure et froide comme un caillou. Ce n’est pas de la peur, non, de la solitude crue, humide. Comme un enfant qu’on ramène en pension un dimanche soir. L’arrachement inévitable. Non, non, je n’ai pas été en pension, ce n’est pas un souvenir… c’est juste… une impression. L’impression, vous voyez, que je n’avais pas le choix. Je veux dire qu’une certaine forme de bonheur ne m’était pas accessible. Ce n’était de la faute de personne. C’était ainsi. Je n’étais pas malheureuse. C’étaient les gens autour de moi qui avaient du malheur. Pas spécialement moi. On était installés dans la douleur, depuis longtemps je crois. Quelle douleur ? La douleur de ne pas savoir qui on est, où on est. Du côté du bien, du côté du mal. Ce n’est pas facile. De quoi je parle ? De la colonisation. » (Dominique Rolland).
  • Extrait de récit de vie filmé. « C’est drôle, c’est drôle. Je ne me souviens pas d’avoir vu la ville d’en haut quand l’avion amorçait sa descente. Toute la nuit, une petit lumière avait clignoté sur l’aile, et puis dans le ciel, quelque chose avait pâli, le noir virant à l’indigo, l’indigo au violacé, le violacé au rose pivoine. Et puis on descend sur l’aéroport de Nôi Bay, Hanoi. Hà nôi, Tonkin. C’est comme ça qu’elle commence, l’histoire. A l’école communale, quand on écrit à l’encre violette, lieu de naissance de la mère, deux points, Hanoi, entre parenthèses, Tonkin. A l’époque, Hanoi, je l’écrivais à la française, en un seul mot. Je ne savais pas qu’il y avait une autre façon de l’écrire, plus âpre, en deux mots, l’accent grave sur le a, l’accent circonflexe sur le o et puis un point, en dessous, comme un coup frappé. Hà nôi. Hà nôi. Mais à l’école communale on ne sait rien de tout ça, juste qu’il faut mettre Tonkin entre parenthèses, parce que c’est la province. Oui, la province. Mais la province de quoi ? La province comme le Languedoc, la Bretagne, l’Auvergne ? Dans la salle de classe, il y a une carte de France, massive, hexagonale, avec tous ses départements colorés serrés les uns contre les autres. Non, le Tonkin n’y est pas. Il figure, sur une autre carte, on lui tourne le dos. L’empire colonial français, c’est un au-delà de l’hexagone qui s’étale sur le mur du fond. C’était la fin de l’année, la fin du programme, et puis c’était aussi la fin de cet empire-là, parce que le Tonkin, c’était un pays où il y avait la guerre. Oui, la guerre. Mais quelle guerre, je ne savais pas, chez moi, on ne disait rien. » (Dominique Rolland).
  • Extrait de récit de vie filmé. « Il y a quelques temps, j’ai retrouvé la carte d’identité de mon grand-père, celle qui date de 1937. A l’époque de l’école communale, c’est chez lui que je vivais. Sur la carte, il y a écrit : Charles-Eugène Harter, né en 1894 à Dap Cau, province de Bac Ninh, fils de Charles Eugène Harter, ingénieur des chemins de fer de l’Indochine et de Nguyen thi Nghièm, son épouse. Son épouse ! Fils légitime, carte d’identité française, pas de problème. Et pourtant, à la troisième ligne, après la mention signes particulier néant, cette autre mention, très étrange: teint, deux points, bistre. Bistre. C’est un drôle de mot. Moi je ne l’ai entendu utiliser que pour les paupières. On dit : paupières bistre. Et encore, seulement quand on parle des yeux des femmes dans les tableaux de la renaissance, ou de ceux des anges très fatigués. Et le teint ? Est-ce une manière pudique de dire la couleur de la race, la couleur de la peau? Non, je ne crois pas : quand on parle du teint, ce n’est pas à propos de ce qu’on appelle les gens de couleur, mais plutôt de ceux qui n’ont pas tout à fait de couleur mais un peu quand même: on dit le teint basané, le teint olivâtre. Etre teinté, c’est n’être pas tout à fait blanc. Mais blanc quand même un peu. Blanc quand même pas mal, plus blanc qu’autre chose. Teint bistre, qu’est ce que ça veut dire ? Mon grand-père, le type au teint bistre, il était métis. C’est pour ça, le teint bistre. Lui, il préférait dire eurasien, parce que de son temps, métis, c’était une insulte. Oui, une insulte. On disait « Sale métis, Sale race de métis ». Aujourd’hui, on a du mal à comprendre, le métissage chez nous est à la mode. On a oublié l’origine coloniale du mot, on pense juste que c’est une chance, un plus dans l’identité, deux cultures, c’est mieux qu’une seule, ça s’additionne. Sauf que, ce n’est pas aussi simple, être métis. Etre métis, ce n’est comme ça, ce n’est pas être deux personnes distinctes, c’est être à la fois l’un et l’autre, avoir toujours une part de l’autre en soi, une part de soi en l’autre. Etre métis, c’est porter en soi les deux parts d’un monde inégal. Etre à la fois l’un et l’autre. Colonisateur et colonisé, dominant et dominé, possédant, et dépossédé. Bien sur, on pourrait me demander ce qu’il m’en reste à moi de ce métissage? Pas grand-chose, de la couleur diluée, de l’identité diluée, presque rien. Et on pourrait se demander tout aussi bien ce qui leur en reste, à eux, les gamins en capuche qui caillassent des bagnoles, qu’est ce qui leur en reste, à eux, de leur origines kabyles, sénégalaises, maliennes, khmères, tamoules, congolaises, canaques, vietnamiennes et que sais-je encore ? De la couleur diluée, de l’identité diluée, pas grand-chose, presque rien. Parfois, à la télévision, on voit des émissions qui s’appellent double jeu, ou double culture. On y invite des écrivains, des intellectuels, des artistes. A les entendre, on comprend tout de suite l’avantage qu’il y a d’avoir deux cultures plutôt qu’une seule. Oui, mais, essayez donc d’aller leur expliquer, aux gamins en capuche qui caillassent des bagnoles, la chance qu’ils ont, d’avoir à la fois leur noble ancestralité africaine et puis l’héritage des lumières… non, eux c’est pas deux cultures qu’ils ont, c’est une culture qui leur a échappé et l’autre qu’ils n’ont jamais réussi à attraper, alors…Ben alors, ils passent pas dans les mêmes émissions, c’est tout ! » (Dominique Rolland).
  • Extrait de récit de vie filmé. « On racontait autrefois dans l’île de Groix qu’un marin était parti au Tonkin et qu’il avait ramené une femme de là-bas. On disait aussi qu’on la voyait parfois assise entre les rochers et regardant la mer. On l’appelait la Tonkinoise de l’île de Groix C’était une légende, ou ce n’était pas tout à fait une légende, car derrière toute légende, il y a toujours une part de vérité. Et derrière cette légende, celle de la Tonkinoise, il y a bien une femme, une vraie. Sa vie, elle tient ce bout papier. C’est un acte de décès. Il date du17 septembre 1853, ici, à Lorient, écoutez : Ce jour à Lorient à huit heures et demie du matin est morte Hélène Barisy …., rentière, née à Hué capitale de la Cochinchine en l’an mille huit cent, âgée d’environ cinquante-trois ans, domiciliée à Lorient, fille de feu Laurent Estiennet Barisy de Groix, ancien officier de marine et dont on ignore le nom de la mère, veuve de Jean Baptiste Chaigneau, grand mandarin du Roi de Cochinchine, Morte en cette ville rue de l’hôpital, maison de la Providence…. A partir de là à improviser avec Benoît Pas d’autre trace d’elle ? Pas de photos, pas de lettres, pas de portraits ? non, rien. Mais si on sait lire entre les lignes, on peut apprendre beaucoup de choses, sur cette femme. Regarde. Son père : Laurent Estiennet Barisy, natif de Groix ; son époux : Jean Baptiste Chaigneau, né à Lorient. Leurs noms sont connus. Barisy, ancien officier de marine, Chaigneau, grand mandarin du Roi de Cochinchine. En fait ils furent les deux. Tous les deux. Je veux dire mandarins et marins. En fait marins d’abord, mandarins ensuite. C’étaient des amis de jeunesse, ils s’étaient connus en Bretagne, avaient navigué ensemble. Puis ils se sont perdus de vue, pour finalement, un jour, se retrouver en Cochinchine. » (Dominique Rolland).
  • Extrait de récit de vie filmé. « Mais avant, il faut que je vous explique. C’est un peu compliqué. Tout commence ici dans une île, du golfe du Siam en 1787, Phu Quoc. Dans cette île, une drôle de rencontre entre un évêque français, et un empereur annamite, c’est pas banal. L’évêque c’est l’évêque d’Adran, Monseigneur Pigneau- il est responsable des missions en Asie du sud-, et l’empereur c’est Nguyen Anh qui a été chassé du pouvoir par une révolte menée par deux frères, les Tay son. Ils sympathisent, se confient leurs soucis respectifs. Nguyen Anh aimerait bien trouver le moyen de retrouver le pouvoir, et l’évêque se demande comment réussir à implanter fermement les missions catholiques en Asie du sud-est. Je ne sais pas qui le premier en eut l’idée, mais ils se dirent que ce serait une bonne chose si la France aidait l’empereur à se rétablir sur le trône. « Est-ce que le Roi de France, Louis XVI, ne pourrait pas lui donner un coup de main à son homologue cochinchinois ? », demande Nguyen Anh. « Et en échange, les français pourraient commercer en Cochinchine ? », demande l’évêque. « Evidemment, répond Nguyen Anh, même jusqu’au Tonkin si vous voulez ». « Et pour les missions, je pourrais déployer les missions par ci et par là ? ». « Mais oui, puisque je serai empereur, c’est moi qui décide ». « Tope là ! », dit l’évêque, qui monte sur un bateau et emmène donc mon fils, le petit Prince Canh. Ça lui fera voir du pays. Arrivés à Versailles, ils sont reçus par Louis XVI qui n’est pas trop au courant. « Ah, bon, la Cochinchine, et il y a quoi, là-bas ? ». « Sire c’est un pays très riche, nous pourrons y commercer et traverser le pays jusqu’en Chine, sans rencontrer les Anglais ». « Ils ne sont pas là-bas les anglais ? ». « Non, ni les anglais ni les hollandais, ni les espagnols, il n’y a personne. Nous serons les seuls ». Louis XVI se tâte, ça ne l’emballe pas trop cette histoire d’empereur déchu, chassé par une révolte. Parce que lui aussi il a des soucis. On est en 1787, vous voyez, la déchéance, ça va lui tomber dessus dans pas longtemps. C’est Marie Antoinette qui va le convaincre, à cause du petit prince Canh, vous savez comme elle est frivole et assez éloignée des soucis de déchéance. Louis regardez comme il est mignon ce petit prince avec sa petite tunique de soie, on peut bien leur envoyer deux ou trois vaisseaux qu’est-ce que ça peut faire, on en a bien assez. « Allez, Louis s’il vous plaît. Bon!» dit Louis, « Il y a deux ou trois frégates en stationnement à Pondichéry, je vais demander qu’on les envoie en Cochinchine ». Marie Antoinette bat des mains, embrasse le petit Canh sur les deux joues- ça le dégoûte mais il est bien élevé. Et décide qu’elle va demander à son musicien de faire une chanson. Fait pour le diadème Royal enfant, consolez vous Adran vous aime consolez vous Royal enfant, vous régnerez Très contents, l’évêque et le prince Canh prennent le chemin du retour. Mais voilà, à Pondichéry, c’est la cata. Le représentant de la France à Pondichéry fait blocage. Il n’a aucune envie d’envoyer des navires ou des armes ou quoi que ce soit. Certes, il y a les ordres de Paris, mais il s’en fout. Des navires, ils n’en a pas beaucoup, il se les garde. Vous imaginez la déception. Mais l’évêque, c’est un battant, il a décidé d’aider son ami, il l’aidera. Il connait du monde dans le coin. Des aventuriers des commerçants, des marins : il leur propose de se mettre au service de Nguyen An. Et ils viennent. Parmi les premiers eux, vous l’avez compris nos deux bretons, Laurent Barisy et Jean Baptiste Chaigneau nous y voilà Ils vont faire la guerre, la guerre pour de vrai : dix ans ça, va durer. Jusqu’en 1802, Nguyen Anh se réinstalle à Hué sous le nom de Gia Long. C’est le premier empereur de la dynastie des Nguyen Et nos français enfin les survivants, sont anoblis et médaillés pour leur bravoure et leur fidélité. Ils deviennent mandarins. Barisy n’en profite pas vraiment, il meurt l’année de la victoire, mais deux des rescapés Chaigneau, et Vannier, resteront encore 20 ans à Hué. Et ils deviennent mandarins français. Mandarins pour de vrai. Grands mandarins, comme c’est dit sur l’acte de décès. Avec des brevets et des sceaux, des titres et des diplômes. Puis en 1820 l’empereur Gia Long mourut. Son fils Ming Mang lui succéda. Un type pas commode, qui n’aimait pas les français. Et 1825, il fallut vraiment rentrer. Chaigneau, Vannier, leurs femmes, leurs enfants métis. Retour à la case départ, Lorient. Oubliés de tous, depuis le temps, ils n’étaient plus mandarins de rien et qui s’en souciait alors, de la Cochinchine… Ah oui, Barisy avait une fille qu’il avait confiée à Chaigneau pour qu’il l’élève. C’est ce qu’il fit, sauf que quand elle a eu 17 ans, il la prit pour épouse. Elle s’appelait Hélène ; hélène Barisy. La boucle est bouclée… Fille de Laurent Barisy natif de Groix et d’une mère annamite dont on ignore le nom… Ce qui fait d’elle la première, oui, la première métisse connue et reconnue. » (Dominique Rolland).
  • Extrait de récit de vie filmé. « La sœur supérieure m’a encore fait une réflexion sur un mot qui m’a échappé en annamite. Ce n’est pas que je ne connaisse pas le français, c’est que, de plus en plus souvent, c’est le mot annamite qui me vient en premier. Et elle ne m’aime pas non plus. Mais cela m’est égal parce que je n’ai pas envie de parler avec elle. D’ailleurs je parler avec personne ici. Sauf avec la petit Jeanne ; c’est la fille de la lingère : elle habite avec sa mère une petite chambre sous les combles. La première fois que je l’ai vue, c’est parce que j’avais laissé la porte de ma chambre entrouverte, alors elle a passé ça et m’a dit que j’avais de drôles de chaussures. C’étaient les pantoufles à bouts retournés qui m’ont été offerte par l’empereur Ming Mang avec une robe de brocart. Je sais bien que ce n’était pas seulement mes chaussures qu’elle trouvait bizarre, mais ma figure et toute ma personne, mais comme elle n’osait pas alors elle a dit : « Tu as de drôles de chaussures, toi ! » Je lui ai répondu que ce sont des chaussures de mon pays, que tout le monde en porte de semblables, même les petites filles comme elle. Elle a eu l’air étonné. Elle me dit ensuite qu’elle était née à Port Tudy, mais que depuis que son père était mort en mer, elle était venue vivre ici avec sa mère, à la Providence. Alors je lui dis que moi aussi autrefois, j’avais possédé une maison dans l’île, que j’avais héritée de mon père, mais que je l’avais vendue pour venir habiter ici, en ville. Je ne sais pas si elle m’a crue. Alors je lui dis que je m’appelle Hélène Barisy. Que mon père, qui était natif de Groix, s’appelait Laurent Estiennet Barisy. Et que ma mère était une annamite, une cochinchinoise comme on dit aussi. On m’appelle la Tonkinoise de l’île de Groix, mais ce n’est pas vrai, je ne suis pas Tonkinoise. Je suis pour moitié française, et pour moitié annamite. Ou si l’on préfère ni tout à fait française, ni tout à fait annamite. Peut que je ne suis ni l’une ni l’autre pour tout dire. Je suis comme on dit, une métisse. Métisse c’est le mot qu’on utilise en Amérique pour désigner les personnes qui sont nées de la rencontre entre les conquistadors espagnols et les femmes indiennes. Là-bas, en Amérique. Etre métis Etre métis, c’est se regarder dans la glace et chercher sa trace. L’arête du nez, la courbe du menton, le dessin de la lèvre, l’oblique du regard, la forme des sourcils, la saillie des pommettes l’implantation des cheveux. Qu’est ce qui nous vient d’Asie, qu’est ce qui nous vient de France ? Qu’est ce qui me reste de cette Nguyen thi Nghiêm, fille d’un petit mandarin de la province de Ha Tay qu’on avait marié à un français ? Je me demande qu’est-ce qu’elle avait pensé de ce mariage ? Rien du tout, peut-être, ici ou là-bas on ne choisissait pas son mariage. Mais quand même, un français ? Je me demande comment ils se sont trouvés, s’ils se plaisaient. Je ne sais pas, je lis dans les livres d’histoire qu’en réalité ils ne se plaisaient pas, ils se trouvaient moches, réciproquement moches… Qu’est ce qui me reste d’elle ? Quelque chose dans le regard, quelque chose dans le sourire. Un sourire qui flotte, irréel comme celui du chat de chester….ça me plait bien cette idée qu’il ne reste que le sourire… Un jour, dans la cour de l’école une petite fille m’a dit « c’est qui, le chinois qui vient te chercher à la sortie ». Je ne savais pas quoi répondre, je ne comprenais pas la question. Quel chinois ? J’aurais dû répondre, « c’est pas un chinois, c’est mon grand-père », mais je n’ai pas eu le réflexe. Et puis si ça se trouve, elle aurait alors demandé ; « mais comment ton grand père peut-il être chinois ? » C’est vrai, ça, comment pouvait-il être chinois ? Je lui aurais bien répondu « il est pas chinois, c’est pas de la Chine qu’il vient, c’est du Tonkin ! Le Tonkin, la province entre parenthèses, tu vois ? » Mais là, je suis certaine qu’elle aurait ricané : « Eh, mais le Tonkin, ce n’est pas une province de la France, c’est en Chine ! C’est une province de la Chine» C’est là, pour sûr, que je me serais embrouillée. « C’est une province de la France qui est en Chine, une province de la Chine de la France, une province de la France qui est en Chine ». Mais je sais bien que j’aurais dû lui répondre une seule chose : « C’est mon grand-père ». Juste ça. Mon grand-père. Un type au teint bistre qui était né en 1894 à Dap Co, province de Bac Ninh, protectorat du Tonkin. Oui, c’est comme ça qu’elle s’appelle la province de la France. Le Protectorat du Tonkin. » (Dominique Rolland)
  • Extrait de récit de vie filmé. « Lettre du chasseur terrible Oui, tout commence comme dans la chanson, c’est presque rien. Presque rien, un petit jeune homme, à la fin du XIXème siècle qui s’engage pour faire la conquête du Tonkin, il est Corse, Auvergnat, Franc-comtois, Breton. Il a 20 ans. Peut-être qu’il n’en reviendra pas. Peut-être qu’il mourra du choléra, du paludisme, du typhus, de la dysenterie, d’une de ces maladies qu’on attrape et dont on meurt avant même d’avoir combattu. Peut-être qu’il sera dévoré par un tigre, ou mordu par un serpent. Peut-être qu’il se noiera dans la rivière claire. Peut-être qu’il sera décapité par les pirates. Mais peut-être qu’il aura eu de la chance, qu’il sera blessé mais pas trop et qu’on l’affectera dans un poste tranquille. Alors il écrira au pays, à sa famille, à sa promise à ses amis… Lettre du chasseur terrible Mon cher Georges A la prise de la citadelle de Hué, j’ai connu des combats terribles et j’ai été blessé au pied gauche, rien de très grave heureusement, et du coup j’ai été affecté à Dong Hoi, qui se situe pas très loin de Hué, si tu te souviens. C’est un pays très calme, très joli, avec beaucoup de temples et de pagodes, car les gens sont très dévots et prient leurs génies de leur épargner les maladies et les calamités naturelles. Les indigènes ne nous font pas de problèmes comme dans le nord. Ce qu’il y a de bien, c’est qu’il est facile de se trouver une petite épouse, pour tenir la maison, faire la cuisine, et faire aussi le reste, si tu vois ce que je veux dire…Certaines seraient même très jolies, malgré leur manie de se teindre des dents en noir ! L’avantage, c’est que tu paies une certaine somme au père (attention, il faut marchander, sinon tu te fais avoir !) et après, si tu n’en veux plus, tu la renvoies et on te rend l’argent ! C’est aussi simple que cela. Quelle belle coutume !!Le seul problème, c’est quand elles te font des petits. Moi il m’en est venu un qui doit avoir presque un an maintenant, un petit tout jaune mais avec un grand nez qui fait qu’on le remarque tout de suite. Evidemment, je ne l’ai pas déclaré, que veux-tu que j’en fasse quand je rentrerai en France ! Surtout ne dis rien à personne, tu imagines l’histoire que ça ferait au pays !! Ces petits, quand c’est petit, ça ne compte presque pas, c’est comme des animaux, des chiots, ils sont collés contre leurs mères, toujours, avec un petit museau jaune et trois touffes de cheveux qu’on leur laisse sur le crâne. On ne peut même pas penser qu’ils sont à soi. C’est quand ça devient grand, qu’on les regarde, qu’ils vous regardent…qu’est ce qu’on peut faire ? Il y a un employé des douanes, dans le district, il a épousé la mère, reconnu trois enfants. C’est une folie, comment peut-on faire ça ? Moi, je ne pourrais pas. Lui, il va rester ici toute sa vie, maintenant, il a plus le choix. Son fils s’appelle François-Duc, François Duc Lambert, il l’a envoyé à l’école, c’est un beau garçon qui parle bien français, et qui maintenant fait des études à Hanoi. Quand je le vois, ça me fait bizarre. Il parle comme une personne bien éduquée… J’ai su que ton régiment avait été affecté à Madagascar et c’est là que te joindra ma lettre. J’espère que tout va bien là-bas et que tu te plais à Diego Suarez. Il paraît que les filles sont jolies, mais attention à ne pas faire un petit négro ! Je te serre la main, écris moi de temps en temps, ça me fera toujours plaisir. Ton ami Antoine. » (Dominique Rolland)
  • Extrait de récit de vie filmé. « Oui, ça changeait tout un père qui vous reconnaissait devant l’état civil. Et ils n’étaient pas si nombreux à le faire, parce que deux ou trois enfants de sang mêlé, au retour en France, c’était plutôt encombrant. Quant à ramener la congaie, on n’y pensait même pas ! Mon arrière-grand-père, l’alsacien, il avait reconnu trois enfants et épousé la mère. Peut-être parce que lui-même était un enfant naturel, c’était le fils d’une lingère et d’un architecte parisien. C’est peut-être pour ça qu’il a reconnu ses enfants. Un jour, il a dû regarder son fils, un gamin de dix ans qui ne parlait pas français et qui était élevé dans la famille annamite de sa mère, et se dire qu’il fallait faire quelque chose, Et faire quelque chose, ça voulait dire le déclarer à l’état civil, et puis l’envoyer à l’école pour qu’il échappe à son destin d’indigène, pour qu’il devienne quelqu’un. Mais ces reconnaissances étaient plutôt rares et les métis abandonnés de plus en plus nombreux. On ne les aimait pas. Enfant on les prenait en pitié, mais adultes, ils dérangeaient. C’était un vrai problème car, bien que de sang français, ils étaient de statut indigène, pas citoyens ! On disait d’eux qu’ils héritaient de toutes les tares, du côté français comme du côté annamite, ça faisait beaucoup. Mais chez les vietnamien, on ne les traitait pas beaucoup mieux : on les appelait « tête de poulet cul de canard » Et d’un côté comme de l’autre, on les soupçonnait de toutes les traitrises. Mais si l’on réfléchit bien, comment pouvait-il en être autrement ? Dans une situation coloniale, si on était fidèle à une partie de soi-même on était traitre à l’autre, forcément. Arrache-toi L’enfance d’un métis est faite de désirs diffus, contradictoires. S’assimiler au côté du père, se fondre du côté de la mère. Choisir : impossible. On ne choisit pas d’être d’un côté ou de l’autre. On négocie. S’assimiler au père, au dominant, à celui qui a le pouvoir. C’est une évidence, si l’on veut sauver sa peau. Peau blanche, peau jaune, laquelle des deux ? Le désir ? Le désir, c’est autre chose, c’est se fondre dans la mère, dans la douceur, dans la tendresse, dans l’odeur suave de sa poitrine, dans la douceur de ses bras. Se couler dans sa voix, dans le miel de sa voix, s’endormir contre son dos, s’endormir contre son flanc Mais si tu veux t’en sortir, petit enfant de deux sang, arrache-toi à la mère, arrache toi à ses comptines et ses berceuses, arrache toi à la tiédeur de son cou, arrache toi à ses mains caressantes, arrache-toi, arrache-toi. Ne regarde pas en arrière, franchis la porte de l’école, la porte du collège, va-t’en, va-t’en, sois docile à la loi du père, sois docile à la loi des blancs. Sois, sous le regard du père, studieux et réfléchi, intelligent et obstiné, sois la fierté du père, sois la fierté de l’œuvre civilisatrice. Sois à leur image. Conforme. Arrache toi, arrache toi au soleil implacable et à la boue des rizières, arrache toi. Arrache-toi aux odeurs de cuisine et à la forme accroupie de ta mère. Arrache-toi aux pinceaux de calligraphes. Arrache-toi au cerf-volant de papier et aux courses sur la digue. Arrache-toi. Arrache-toi. Franchis le portail du collège, franchis le portail du lycée. Arrache-toi à la pêche aux grenouilles, arrache-toi à la chasse aux oiseaux. Arrache-toi à l’or des pagodes, arrache-toi à l’odeur des encens Arrache-toi aux génies cachés dans les racines du banian Arrache-toi, arrache-toi Deviens l’autre. Deviens le fils du père. Marche comme lui en relevant la tête et en redressant le dos, tu es le fils du maître. Enfile des costumes et des chemises et des cravates et des chaussures cirées. Marche comme lui en assurant ton pas. Ne détourne pas le regard, garde tes yeux à l’horizontale, tu es le fils du blanc. Arrache-toi. Arrache-toi aux tombes des ancêtres dans les rizières. Arrache-toi à leurs os. Arrache-toi à la glaise. Arrache-toi à l’ombre fraîche des maisons. Franchis la porte du lycée, franchis la porte de l’université Arrache-toi Arrache-toi à la fumée bleue des autels. Ne regarde pas en arrière, arrache toi. T’es un chanceux, un reconnu, un légitime, un déclaré. Un chanceux, t’es tombé sur le bon père : celui qui fait ce qu’il faut, qui te donne un nom, une citoyenneté, un statut, une existence. Alors ne regarde pas en arrière, arrache toi Tu as le nom, tu as les papiers, tu as l’adresse dans le quartier européen, tu as les diplômes, tu as tout ce qu’il faut pour être comme eux. » (Dominique Rolland)
  • Extrait de récit de vie filmé. « Métis, métis, c’est un joli mot, c’est sûr. On le voit fleurir partout maintenant… on parle de musique métisse, de mode métisse, de cuisine métisse, à force ça ne veut presque plus rien dire. Il faut retourner aux origines, au dico, voir qu’est-ce qu’ils en disent… METIS, ISSE adj. 37 1°) qui est mélangé, qui est fait moitié d’une chose et moitié d’une autre- Mod : tissu métis, toile métisse dont la chaîne est en coton et la trame en lin. 2°) de métice, 1615, du portugais: qui est issu du croisement de races, de variétés différentes dans la même espèce. Dont le père et la mère sont de races différentes. Enfant métis. Métis né d’un noir et d’une blanche (ou d’une noire et d’un blanc) (voir mulâtre), d’un européen et d’une asiatique (v.eurasien)., v. quarteron. Descendant de métis et d’une race pure V aussi hybride, bâtard. Ant. Pur Ant. De pur: impur, composite, corrompu, mauvais, altéré. METISSAGE, 1° croisement, mélange de race. Les racistes luttent contre le métissage. Zoologique et botanique: hybridation. Antonyme pureté " de la race", sélection. METISSER, verbe croiser des individus de races différentes. Chien métissé, bâtard Exemple Métisser des lapins des plantes. Clément dessine des lapins Quoi ? Métisser des lapins des plantes ? Qu’est-ce que ça veut dire métisser des lapins des plantes ? Métisser des lapins, virgule, des plantes, peut-être. C’est à dire, métisser des lapins entre eux, entre différentes sortes, espèces de lapins, d’un côté et différentes espèces de plantes de l’autre. Début guimbarde C’est idiot. Bien sûr que c’est idiot, mais quand même moins que métisser des lapins et des plantes ensemble. Là c’est carrément me délire surréaliste. Ça fout en l’air tous les travaux de la génétique, ça… Métisser des lapins et des plantes. Qu’est-ce que ça donnerait un hybride de lapin et de plante ? Un lapin qui naîtrait avec une carotte déjà greffée entre les dents ? Ou un lapin de noël : il naitrait tout vert avec des guirlandes et des boules qui brillent. Ou un lapin parasol, peut-être ? en Provence pratique pour s’abriter du soleil c’est pratique, ça fait de l’ombre et ça laisse pas des aiguilles partout quand on s’assied. Métisser des lapins et des plantes, quelle drôle d’idée, quand même ; quel drôle d’exemple… Toi, le fils chanceux tu deviendras professeur de mathématiques, une vraie réussite. Tu mettras un smoking et de la gomina dans tes cheveux. Tu iras à leurs fêtes, à leurs bals, à leurs cérémonies Alors petit enfant de gentil blanc responsable, tu seras sauvé On ne dira pas bâtard dans ton dos, non, tu es le vrai fils du père. Les autres, les pas chanceux, les fils de servantes, les fils de marchandes et les fils des putains, les fils sans nom, et les fils sans papier, iront à l’orphelinat. S’ils ont encore un tout petit peu de chance, ils iront à l’orphelinat. La sale race de bâtard de sang-mêlés. Avec qui tu ne voudrais pas qu’on te confonde. » (Dominique Rolland)
  • Extrait de récit de vie filmé. « 1945. De toutes façons, et heureusement, ça n’a pas duré très longtemps la colonisation. Dans les années 40, c’était déjà fini Le 9 mars 1945 ce fut le coup de force des japonais. Ensuite il y eut ce qu’on découvrait des annamites, de tout ce peuple que l’on côtoyait depuis toujours et qu’on ne comprenait plus sans se demander vraiment comment il se faisait qu’on ne l’ait jamais compris. Des ingrats, disaient-ils. Comme ils auraient parlé d’enfants qui auraient mal tourné. Comme si c’était l’ingratitude qui faisait agir les révolutionnaires. Les français de là-bas ne se pensaient pas comme des conquérants mais comme des civilisateurs. S’ils s’étaient pensés comme des conquérants, tout aurait été plus simple, car ils auraient alors sans doute admis que des peuples conquis se révoltent et essaient de se libérer. Mais que des peuples que l’on est venu éduquer, civiliser, pour lesquels on s’est sacrifié, des gens que l’on aime comme ses propres enfants veuillent s’affranchir de cette trop aimante tutelle, cela ne pouvait pas s’appeler une révolution. Juste une révolte d’enfants, pas une révolution. Ils nous aimaient répétaient ils incrédules. Ils nous aimaient ! Et cela même n’est pas vraiment contestable. Enfin, ils n’avaient pas de haine, ce n’est pas cela, ce n’est pas que cela. En une même personne pouvait follement coexister la haine et l’admiration, l’affection et le ressentiment. Ils pouvaient détester ceux qu’ils aimaient et aimer ce qu’ils détestaient. Parce que la colonisation, elle était faite comme ça : d’une imbrication de sentiments contradictoires vis-à-vis de ceux qui s’étaient rendus maîtres du pays. On ne peut pas penser à eux d’une seule manière. Il y a mille manières de penser à eux. C’est pour ça que c’était si compliqué, si difficile. » (Dominique Rolland)
  • Extrait de récit de vie filmé. « La petite Jeanne, je la laisse fouiller. Elle ouvre les coffres de santal et sort des bols de porcelaine, des baguettes d’argent et des robes brodées. Je lui explique que les baguettes, c’est pour manger et elle me demande si pour manger nous n’avons point de fourchettes dans notre pays et je lui dis que non, nous n’avons point. Je lui montre comment tenir les baguettes entre les doigts et porter le bol à sa bouche mais comme nous n’avons pas de j’émiette un bout de pain, et nous faisons semblant. Elle aime regarder les bols et les assiettes de porcelaine car il y a des paysages dessinés avec des montagnes et des rivières, des maisons et des barques et aussi de petits personnages. Elle montre une maison, me demande si c’est la mienne. C’est juste un dessin, je lui dis, ce n’est la maison de personne. Elle me demande pourquoi les toits sont retroussés eux aussi, comme tes pantoufles, est ce que c’est une mode de retrousser toutes les choses ? Je ne sais pas, je n’ai pas de réponse, je n’avais jamais remarqué. Je lui parle de la maison que nous avions sur le canal de Phu Cam, et alors il me semble dans mes paroles entendre le bruit la pluie le long des murs, très distinctement et aussi la voix des écoliers qui récitent leurs leçons sous la véranda. Et je pense à l’odeur des frangipaniers. Elle me demande le nom des fleurs dans le jardin, et je les énumère comme si je priais. Pivoine, frangipane, orchidée, ibiscus… je dis leur forme, leur couleur, leur parfum, pour chacune d’entre elle je le dis. Je lui raconte aussi les jeux que nous inventions dans le jardin quand nous étions enfants. Nous appelions cela « jouer aux français ». Je lui dis que nous devions être bien ridicules, car nous ne savions rien des français, c’était notre imagination.. Mais quand nous étions encore là-bas, il nous semblait qu’il n’y avait rien de plus enviable qu’être français. « Est-ce que les maisons des français sont plus belles que les nôtres ? » demandaient nos amis les fils de mandarins. « Bien plus belles, répondions-nous avec arrogance, et ils se sentaient vexés. Aujourd’hui, je me demande ce qu’ils penseraient s’ils me voyaient, regarde comme cette pièce est petite et fermée ! Je lui dis tu sais, Jeanne, et elle pense que je saute du coq à l’âne, tu sais, Jeanne, Monsieur Chaigneau était un homme triste. Même à Hué, quand je l’entendais rire avec ses amis Vannier et de Forçantz, même quand je voyais ses yeux s’allumer en parlant avec notre maître en caractères, c’était un homme triste. C’est cette tristesse qu’il nous a transmise à nous tous ses enfants, car même si j’ai été son épouse, je me considère comme son enfant. Cette tristesse nous vient sans doute de ce que nous n’avons pas de place, ni dans ce monde ci, ni dans l’autre. Nous ne sommes ni tout-à-fait français, ni tout à fait cochinchinois, et le pire, tu vois, c’est que nous n’avons même pas idée de ce que nous pourrions être d’autre. » (Dominique Rolland)
  • Extrait de récit de vie filmé. « Mon grand-père ne parlait jamais de son enfance, ni de son adolescence. Il ne racontait jamais d’anecdote, ne parlait pas de son père, ni de sa mère. En fait, il ne parlait pas de lui. C’était cela, son silence. Un jour seulement, je me souviens qu’il m’avait dit, en me montrant sur l’écran en noir et blanc de la télévision le visage rond d’un général vietnamien : « tu vois, celui-là, il était toujours premier en mathématiques ». C’était le général Giap, le vainqueur de Dien Bien Phu, qu’il avait eu comme élève à Hué, au collège Quoc Hoc, vingt-cinq ans plus tôt. Et puis un autre jour, il m’avait dit, avec une grande intensité : « tu sais, minh, ça veut dire clarté, lumière ». je ne sais pas pourquoi il avait dit ça. Peut-être parce qu’à la même époque, les français faisaient rimer vietminh avec vermine. Ils disaient « vietminh la vermine, vietminh la vermine ». C’est peut-être pour ça. Rien de plus, non. Je ne me souviens de rien d’autre. Sur lui les choses glissent et rien ne peut l’atteindre, on ne peut pas le faire dévier de sa route, le détourner de ses pensées, il est impénétrable. C’est ce que les gens disaient de lui, même longtemps après sa mort. Mais moi quand j’avais six ans, sept ans, dix ans, je ne le trouvais pas bizarre, ni impénétrable, ni même chinois. C’était mon grand-père, juste mon grand-père, un grand père comme les autres grands-pères, je pensais. Je ne voyais pas sa différence. Mais aujourd’hui, avec le temps qui a passé, cette différence m’est très évidente, à cause de cette façon assez asiatique qu’il avait de sembler toujours peu concerné, toujours un peu à côté des choses. Mais ce n’était pas de l’indifférence, non. C’était juste du silence. Du silence. J’ai compris qu’une identité métisse, ça commence parce qu’elle est tuée. » (Dominique Rolland)
  • Extrait de récit de vie filmé. « L’avion descend sur la ville, on distingue déjà les rizières. Je reviens au Tonkin. Oui, je dis toujours que je reviens. Quelqu’un s’était étonné, quand je racontais mon premier voyage de ce que je puisse utiliser ce verbe, revenir, pour parler d’un pays où je n’avais jamais été, où je n’avais jamais vécu. Pourtant, ce n’est pas un lapsus, c’est bien le verbe revenir, qui convient. Parce que revenir, c’est comme revenir sur ses pas. On met beaucoup de temps à comprendre, toute une vie parfois, parce qu’on pense que ce sang d’asiate s’est dilué dans le sang des autres, et que l’histoire qui nous a produits, l’histoire coloniale, c’est de l’histoire ancienne. Et puis un jour, on prend un billet d’avion… » (Dominique Rolland)
Titre: La Tonkinoise de l’île de Groix
Auteur(s): ROLLAND, Dominique
Durée: 00:57:14
Date de réalisation: 30/11/2013
Lieu de réalisation: Musée de l'Histoire de l'Immigration 293 Avenue Daumesnil, 75012 Paris
Genre: Extrait de récit de vie filmé
Ce texte de Dominique Rolland, adapté de l’ouvrage La Tonkinoise de l'île de Groix, revisite l'histoire du métissage en Indochine et entrelace deux mémoires, croisant la biographie familiale de l'auteure et, exhumé des archives, le destin singulier de la première métisse franco-vietnamienne, fille de Laurent Estiennet Barisy, originaire de Groix, et épouse de Jean-Baptiste Chaigneau, tous deux mandarins français à la cour de l'empereur Gia Long, fondateur de la dynastie des Nguyen. Le récit est mené sur scène par l’auteure, Dominique Rolland, et graphiquement commenté par Clément Baloup, jeune auteur de bandes dessinées et de romans graphique (Quitter Saigon, Little Saigon), également eurasien et présenté lors l’exposition Albums. En l'absence du musicien vietnamien Tran Quang Hai, qui devait accompagner le spectacle, c’est Rémy Gastambide, musicien, qui prend exceptionnellement la relève, ils sont également accompagné de Benoît Nguyen Tat, comédien. Ces voix, textuelles, graphiques et musicales proposent une réflexion particulièrement riche sur la question du métissage à l’époque coloniale et à ses prolongements dans les communautés issues de l’immigration en France.
Sujet: Civilisations du monde
Topique: Con lai ở chiến tranh Đông Dương.
Expression en langue originale: Les enfants métis nés de la guerre Indochine
Mots-clés: métis, Indochine, Vietnam, ile de Groix
Fait culturel: Métissage culturel
Localisation spatiale du sujet: Viêt Nam ; Le Tonkin
Le Nord du Vietnam sous l'époque coloniale française.
Localisation temporelle du sujet: XXe siècle ap. J.-C. ; XIXe siècle ap. J.-C.
Aspects rhétoriques et discursifs: Discours artistique ; Interprétation ; L'auteur traite le sujet selon un point de vue autre que le sien tout en l'adoptant
Histoire du métissage en Indochine et destin de la première métisse sur l'ile de Groix.
Nom: Baloup
Prénom: Clément
Rôle: Dessinateurs
Appartenance: Institutions en France
Fonction: Dessinateur/illustrateur
Adresse: France
Clément Baloup est auteur de bande dessinée et illustrateur. Il fait ses études à l'Ecole Européenne Supérieure de l'Image, et est membre du Zarmatelier, atelier de bande dessinnée créé en 2001 et basé à Marseille.
Nom: Blanchandin
Prénom: Pierre
Rôle: Réalisateurs d'oeuvres audiovisuelles
Appartenance: Ergonyme (nom propre)
Fonction: Cadreur/réalisateur
Adresse: France
Pierre BLANCHANDIN, cadreur/réalisateur, Py Films, France.
Nom: ESCoM-AAR (Equipe Sémiotique Cognitive et Nouveaux Médias - Archives Audiovisuelles de la Recherche)
Rôle: Producteurs d'oeuvres audiovisuelles
Appartenance: FMSH - Fondation Maison des Sciences de l'Homme, ESCoM - Equipe Sémiotique Cognitive et Nouveaux Médias, France
Adresse: FMSH (Fondation Maison des Sciences de l'Homme), Paris, France
ESCoM-AAR (Equipe Sémiotique Cognitive et Nouveaux Médias - Archives Audiovisuelles de la Recherche), FMSH (Fondation Maison des Sciences de l'Homme), Paris, France
Nom: Gastambide
Prénom: Rémy
Rôle: Interprètes musicaux
Appartenance: Institutions en France
Fonction: Artiste peintre
Adresse: Paris, France
Né le 1er janvier 1969, à Saïgon (Sud Vietnam), pendant la guerre (1965-1975), d’une relation entre un soldat noir américain et une femme vietnamienne, Rémy Bac Ai a été adopté par un couple franco-suisse, les Gastambide, et a été élevé à Reims. Après des études supérieures de dessin académique et d’illustration à Paris (ESAG Penninghen) puis à Londres (Kingston Polytechnics), Rémy s’est tourné vers la photographie documentaire : « Je suis retourné au Vietnam pour la première fois en 1991. J’ai pu constater la déconsidération dont beaucoup des enfants {amérasiens} devenus de jeunes adultes, font l’objet. J’ai voulu mener un essai photographique portraitiste {…) Ce travail représente mon combat contre l’oubli et le chagrin » Depuis 1991, au cours de ses « voyages/retour aux sources » au Vietnam, puis aux USA, Rémy a poursuivi son essai photographique sur les Amérasiens de la guerre du Vietnam (enfants de père GI US et mère vietnamienne), à travers lequel il interroge sa propre identité de métis noir. Son parcours débute ainsi avec ce travail qui a fait l’objet de diverses parutions dans la presse française et internationale, ainsi que de plusieurs expositions en France, Angleterre, USA, Allemagne et Mali, depuis 1994. Aujourd’hui, Rémy Bac Ai s’oriente à nouveau vers le dessin et la peinture, « ses premiers amours ». Choisissant le thème du bouddhisme, il explore les fondements de sa foi profonde en cette « philosophie », livrant les fruits de sa propre expérience dans cette voie religieuse, qu’il a suivie, étant plus jeune, sous la guidance du moine vietnamien Thich Nhat Hanh. L’artiste signe ses « toiles », ou ses bandes de papier, de son nom vietnamien : Nguyên Bac Ai, inscrivant ainsi sur son œuvre cette identité qu’il considère comme véritable « identité intérieure, passé enfoui ». Rémy Bac Ai revisite les figures mythiques du Panthéon Bouddhique au grand complet. Bouddhas, Bodhisattvas, Arahats, Gardiens, etc, sont campés sous la forme d’esquisses spontanées plus grandes que nature : 2 mètres 80 sur 1 mètre. Les personnages sacrés sortent néanmoins de leurs représentations habituelles et traditionnelles, et le traitement contemporain de cette thématique amène le spectateur à découvrir le Bouddha et ses disciples dans une vision des plus singulières. Quête de l’esprit du dessin de par le trait jeté, quête du bouddhisme par la tâche, Rémy Bac Ai a réalisé près de 90 œuvres depuis juin 99. Il nous offre, au travers des techniques picturales de son choix : encre de chine, rehaut de blanc, et papier kraft, peinture, mais aussi matière organique, minérale, végétale, le reflet de sa fascination pour les dessins de ses quatre principaux modèles : Egon Schiele (1890-1918, Autriche), Hakuin Ekaku (1686-1769, Japon), Giovanni Battista Tiépolo (1696-1770, Italie), Grünwald (1475/80- 1528, Allemagne), privilégiant par-là, le dessin avant tout, comme « la moelle épinière du corps pictural ». Pour lui, ces peintures ne sont pourtant que des croquis, les prémisses d’autres œuvres à venir, de plus grands formats encore. En fait, Rémy Bac Ai nourrit depuis toujours le désir de décorer une pagode bouddhiste. Il cherche aujourd’hui à collaborer à un chantier consacré à l’édification de tels édifices religieux : « Je conçois en cette tâche, la raison de mon engagement personnel et spirituel d’artiste. C’est le but, le sens même de ma vie ! »
Nom: Nguyen Tat
Prénom: Benoît
Rôle: Metteurs en scène (spectacle vivant)
Appartenance: Institutions en France
Fonction: Comédien
Adresse: 167 rue du faubourg poissonnière 75009 Paris, Paris, France
Benoît Nguyen tat, metteur en scène et comédien, a été fomré au Conservatoire National Supérieur d’Art Dramatique de Paris et à la London Academy of music and Dramatic Art. Comédien, il travaille sur des créations contemporaines avec Roger Clissold, Niall Faser à Londres au « The Mac Owan Theater » ; avec Christophe Caustier au théâtre du CNSMP à Paris, puis en tournée à Helsinki et Saint-Petersbourg ; avec Igor Minaev, au théâtre de Vanves et à l’auditorium Saint-germain à Paris ; avec Louis Do de Lencquesaing au théâtre de la Bastille à Paris, dans le cadre du festival d’automne ; avec Véronique Vellard au théâtre de l’Entrepôt à Alfortville ; avec Robert Cantarella au théâtre du Gymnase à Marseille ; avec Jean- Claude Penchenat et Nathalie Lacroix au théâtre de l’épée de Bois. Metteur en scène, il monte « La Fenêtre ouverte » de Saki au Théâtre du CNSAD à Paris ; « Jeux de massacre » de Ionesco au Théâtre Louis Richard à Roubaix dans le cadre du développement de la citoyenneté, festival des Transculturelles ; « Détournement » de Pierre Diot , au Cinévox, au festival d’Avignon, au Point-Virgule à Paris ; « Léonie est en avance » de Georges Feydeau, tournée dans plusieurs théâtres du Languedoc Roussillon ; Tango/Tangage“ de Jean-Marie Piemme, mise en scène au théâtre de La Noue à Montreuil, au théâtre d’Ô à Montpellier, au théâtre de la Manufacture à Saint-Quentin, au théâtre de la manufacture en Avignon et "La jeune première"jouée au théâtre Dunois, au théâtre du Chaudron, et au Local. Au cinéma et à la télé, il a travaillé avec J. Doillon sur Portrait d’un Auteur, Nathalie Sarraute ; J. Pinheiro sur Navaro ; Joyce Bunuel sur Soeur thérése.com, avec Loo Hui phang sur Panorama. Il a participé à l’écriture des séries "Break up", "La Borne" et "Dark Elevator". Son scenario “Une corniche entre nous” a été Lauréat du concours CECI Moulin d’Andé 2005 et a reçu l’ aide à l’écriture Beaumarchais SACD 2006
Nom: Rolland
Prénom: Dominique
Rôle: Comédiens (spectacle)
Appartenance: INaLCO - Institut national des Langues et Civilisations Orientales, France
Fonction: Maître de Conférences - Directrice de la filière Communication et Formation Interculturelles (CFI)
Adresse: Paris, France
Dominique ROLLAND est anthropologue, maître de conférences à l'INALCO à Paris, où elle dirige la filière Communication et Formations Interculturelles. Après un travail de terrain dans le sud-est de Madagascar, qui a donné lieu à une thèse sur le Royaume Antemoro, elle consacre ses travaux à la question du métissage, en s'appuyant principalement sur le cas de l'Indochine coloniale. Le résultat de ses recherches se décline dans différents registres : travaux académiques, littérature et expressions scéniques. Elle est une des porteuses du projet interuniversitaire Enseigner l’écrit à des publics faiblement ou non lettrés : Bilan critique des formations, mutualisation, ouvertures vers le terrain et collabore régulièrement au magazine bimestriel Le Français dans le monde, notamment à son supplément Francophonies du Sud, et à la revue Recherches et applications de la FIPF.
Langue: Tiếng Việt
Đây là đoạn trích trong tác phẩm «Cô gái Bắc Kỳ đến từ đảo Groix» thuật lại câu chuyện về con lai ở Đông Dương và hai dòng hồi tưởng. Qua tiểu sử gia đình của tác giả, tư liệu lưu trữ, truyện kể về số phận đặc biệt của cô con lai đầu tiên Pháp-Việt, con gái của Laurent Estiennet Barisy , đến từ đảo Croix và vợ của Jean- Baptiste Chaigneau, hai quan Pháp tại tòa án của Hoàng đế Gia Long, người sáng lập triều đại nhà Nguyễn . Câu chuyện được tác giả Dominique Rolland thuật lại trên sân khấu và minh họa bởi Clément Baloup, tác giả trẻ của truyện tranh và tiểu thuyết đồ họa (Quitter Saigon, Little Saigon), anh cũng là con lai Âu-Á và thể hiện trong triển lãm Albums. Trên sân khấu lần này thiếu sự có mặt của nhạc sĩ Việt Nam Trần Quang Hải, người đã đồng hành cùng chương trình. Vở diễn có sự tham gia đặc biệt của nhạc sĩ Rémy Gastambide và diễn viên Benoît Nguyễn Tất. Những lời kể, văn bản, đồ họa và âm nhạc cho thấy một sự phản ánh phong phú về vấn đề con lai trong thời kỳ thuộc địa và hơn nữa là trong cộng đồng người nhập cư tại Pháp.
Type: Récits de vie
Dominique Rolland a rédigé son texte autour de son expérience familiale ainsi qu’autour de la vie de la première métisse franco-vietnamienne reconnue.
ROLLAND, Dominique. « La Tonkinoise de l’île de Groix », Archives Rencontre des Cultures (ARC), 2261, 2013, [en ligne] ; URL : http://www.archivesaudiovisuelles.fr/2261/
Type: Droit d'auteur relatif à la production du document source
© ESCoM-AAR (Equipe Sémiotique Cognitive et Nouveaux Médias - Archives Audiovisuelles de la Recherche), FMSH (Fondation Maison des Sciences de l'Homme), Paris, France
Type: Droit d'auteur relatif à la réalisation du document source
© DE PABLO, Elisabeth, ingénieur de recherche, ESoM-FMSH, Paris, France, 2013 © BLANCHANDIN, Pierre, cadreur/réalisateur, Py Films, France, 2013
Type: Droit d'auteur relatif au contenu du document source
© ROLLAND, Dominique, maître de conférence, INaLCO, Paris, France, 2013 © NGUYEN TAT, Benoît, comédien, Paris, France, 2013 © BALOUP, Clément, dessinateur, Paris, France, 2013 © GASTAMBIDE, Rémy, artiste, INaLCO, Paris, France, 2013
Type: Régime général "Creative Commons" relatifs au document source
"Cette ressource audiovisuelle est protégée par le régime "Creative Commons". Vous êtes libres de la reproduire, distribuer et communiquer au public. Mais vous devez impérativement signaler sa paternité (son ou ses auteurs), vous n'avez pas le droit de la modifier ni d'en faire un usage commercial. Lecture, diffusion et exploitation concrète de cette ressource audiovisuelle présuppose que vous ayez accepté les règles juridiques Creative Commons décrites dans la page "
Titre: La Tonkinoise de l’île de Groix
Langue(s): Français
Comment citer: NGUYEN, Cong Khanh. « Analyse générale du spectacle "La Tonkinoise de l’île de Groix"» (Portail ARC, 2014) : http://www.arc.msh-paris.fr/
Id analyse: 2d138d22-ef65-4836-a29d-6aa5c591d814
Id vidéo: 3060b892-2b96-4848-b6f4-4f738ad82607
Dans le cadre de la semaine de la solidarité internationale, et de l’année France-Viêt Nam, un spectacle de Dominique Rolland sur le thème du métissage a été proposé samedi 30 novembre soir au Crec de Dinan. Le titre : “La Tonkinoise de l’île de Groix”. Il s’agit d’une création mêlant travail scénique, expression graphique et intervention musicale autour d’un texte de Dominique Rolland publié en 2010.
Dans le cadre de la semaine de la solidarité internationale, et de l’année France-Viêt Nam, un spectacle de Dominique Rolland sur le thème du métissage a été proposé samedi 30 novembre soir au Crec de Dinan. Le titre : “La Tonkinoise de l’île de Groix”. Il s’agit d’une création mêlant travail scénique, expression graphique et intervention musicale autour d’un texte de Dominique Rolland publié en 2010. Ce texte est centré autour de l’histoire familiale de l’auteure, qui commence au tout début du XXe siècle par l’union d’un jeune militaire alsacien et de la fille d’un petit mandarin du delta du Tonkin… Il évoque aussi un destin singulier “exhumé des archives” : celui de la première métisse franco-vietnamienne, née en 1800 en Cochinchine, et décédée à Lorient en 1863. Elle était la fille de Laurent Estiennet Barisy, marin originaire de Groix, devenu mandarin à la cour de l’empereur Gia Long, et d’une femme vietnamienne. Orpheline dès sa prime enfance, elle fut confiée à la garde de Jean-Baptiste Chaigneau, également mandarin français. Il restera trente ans au service de l’empereur, avant de rentrer en France. C’est ainsi qu’Hélène Barisy terminera sa vie à Lorient, retirée dans une institution religieuse après le décès de son mari. Le récit est mis en scène par Dominique Rolland, à l’aide du comédien Benoît Nguyen qui apporte le contrepoint. L’histoire est commentée graphiquement par Clément Baloup, jeune auteur de bande dessinée, également eurasien. Tran Quang Hai, spécialiste de la musique traditionnelle vietnamienne, accompagne l’ensemble de ses mélodies.