Âm nhạc Việt Nam từ những ngày đầu đến nay. TRAN, Quang Hai

Chapitre

Titre: Vài ̣nét giới thiệu khái quát về đặc trưng của âm nhạc Việt Nam
Durée: 00:03:56   [00:00:00 > 00:03:56]
Genre: Corpus audiovisuels
Âm nhạc Việt Nam kể từ thời lập quốc với hơn 1000 năm Bắc thuộc chịu ảnh hưởng nhiều của Trung Quốc từ nhạc ngữ như Cung, Thương, Cốc, Triều, Vũ và Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, đến nhạc cụ như đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn tam, trống, đàn triều đình... Ba nhạc cụ duy nhất chỉ có ở Việt Nam là đàn bầu, đàn đáy và đàn sinh tiền. Tuy nhiên, cùng với thời gian việc giảng dạy trong các trường đại học âm nhạc ở Việt Nam đã chuyển sang đồ, rê, mi, pha, son, la.
Langue: Français
Pour des raisons historiques, la musique vietnamienne a subi l’influence forte de celle de la Chine. En effet, environ 80% des instruments comme đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn tam, trống, đàn triều đình… sont d'origine chinoise, seuls dan bau, dan day, dan sinh tien ont été inventés par les Vietnamiens. Quant au langage musical, les gammes pentatoniques chinoises comme "Cung - Thương - Cốc - Triều - Vũ" et "Hò - Xự - Xang - Xê - Cống" ont été utilisées officiellement depuis la dynastie des Le. Jusqu’à nos jours, en raison de l’influence de la musique occidentale, ces gammes musicales ont été transmises en « Đô - Rê - Fa - Son - La - Đô » pour être introduites dans l'enseignement de la musique dans les écoles.
Titre: Âm nhạc Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử
Durée: 00:07:57   [00:03:56 > 00:11:54]
Chúng ta có thể chia lịch sử âm nhạc Việt Nam thành nhiều giai đoạn, từ thời Ngô Quyền lập quốc đầu thế kỷ thứ 10 cho đến tận ngày hôm nay. Thời gian đầu, từ thế kỷ 10 cho tới thế kỷ 15 thời nhà Trần kết thúc, âm nhạc nước ta chịu ảnh hưởng của nhạc Ẩn độ và nhạc Trung quốc, Sau đó, từ thế kỷ 15 đền thể kỷ 18 dưới thời Lê, vua Lê Thánh Tông đã cử đại thần Nguyễn Trãi sang Trung quốc để học âm nhạc cuả nhà Minh. Trở về nước, ông đã phát triển Nhạc Cung đình và vì thế chúng ta có những loại nhạc giống với Trung quốc như: Đường thường Chi nhạc, Đường hạ Chi nhạc, Cung trung Chi nhạc, Miếu nhạc, Yến nhạc... Từ đầu thế kỷ 19 đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, bên cạnh việc tạo được một chỗ đứng quan trọng cho âm nhạc, văn hóa nước ta cũng chịu ảnh hưởng của văn hoá Tây phương do Pháp mang đến. Vì thế dòng nhạc Cải lương xuất hiện và vào những năm 1930, nền tân nhạc ra đời. Cải lương được thoát thai từ những vở kịch như: « Le Cid » de Corneille, « Les misérables » de Victor Hugo…Còn tân nhạc thì ban đầu, những điệu nhạc, lời ca được sáng tác rất đơn giản nhưng lời bài hát thì rất trữ tình và đi vào lòng người. Thời gian này, tân nhạc Việt nam vừa vẫn giữ ảnh hưởng của Trung Quốc với âm nhạc ngũ cung nhưng đồng thời phát triển âm nhạc thất cung theo kiểu Pháp. Từ năm 1945, chúng ta thấy có sự suy đồi của nhạc cổ truyền và sự phát triển không ngừng của Tân nhạc. Các học viên âm nhạc được cử đi học ở phương Tây, khi về nước sáng tác ngày càng nhiều các bản hòa tấu, viết cho đàn pinao... và dàn nhạc giao hưởng của Việt Nam đầu tiên đã ra đời ở Hà Nội. Từ đó đến nay, âm nhạc nước ta cũng đã tiếp nhận các dòng nhạc như: pop, rock, salsa, hip hop, techno...tuy nhiên âm nhạc truyền thống đang ngày càng mai một.
Langue: Français
On pourrait diviser l’histoire de la musique vietnamienne depuis la fondation du pays sous la dynastie de Ngô Quyen au début du 10è siècle jusqu'à nos jours en plusieurs périodes. Dans un premier temps, depuis le 10è siècle jusqu'au 15è siècle-la fin de la dynastie des TRAN, la musique vietnamienne s’est inspirée des 2 tendances musicales : l’une venant de la Chine et l’autre de l’Inde. Après, du 15è au 18è siècle, sous la dynastie des Le, le roi LE Thanh Tong avait envoyé le haut dignitaire Nguyen Trai en Chine pour apprendre la musique de Cour de la dynastie des Minh. D'où la naissance de la musique de Cour au Vietnam. Nous avons des mêmes genres musicaux que la Chine : Duong thuong chi nhạc, Duong ha chi nhac, Cung trung chi nhac, Mieu nhac, Yen nhac… Depuis le début du 19è siècle jusqu’avant la Première Guerre mondiale, la musique vietnamienne s’est efforcée d’affirmer sa propre position et ont également été influencée par la musique occidentale, notamment la musique française. Dans les années 1930, le chant Cai luong s’est apparu en s’inspirant des pièces théâtrales françaises comme : « Le Cid » de Corneille, « Les misérables » de Victor Hugo… En 1930, la musique moderne (Tan nhac) s’est introduite. Tout d’abord, des œuvres musicaux nés pendant ce contexte étaient très simples, faciles à apprendre et surtout romantiques ; ce qui enracinent dans l’esprit du peuple. Pendant cette époque, les 2 tendances musicales se sont introduites dans notre musique, dont l’une venant de la Chine avec ses 5 notes musicales et l’autre de la France avec ses 7 notes. Depuis en 1945, on constate le déclin de la musique traditionnelle et l’expansion de la musique moderne établie par des étudiants musicaux envoyés partout aux pays étrangers. Ces étudiants, à leur retour, ont commencé à produire des sonars, des opus de piano… et le premier orchestre symphonique a été créé à Hanoi. Depuis ce moment-là, la musique vietnamienne a reçu de nouvelles tendances: pop, rock, salsa, hip hop, techno… tandis que la musique traditionnelle risque d'être négligée.
Titre: Ngữ nhạc và nhạc cụ ̣̣đặc trưng của nhạc cổ truyền Việt Nam
Durée: 00:12:45   [00:11:54 > 00:24:39]
Đặc trưng của âm nhạc cổ truyền Việt Nam là dựa trên thăng âm nhạc ngũ cung và có 5 loại thăng âm nhạc ngũ cung như tôi minh họa (minh họa). Ngoài ra, chúng ta có những thăng âm rất đặc biệt : ví dụ như ở miền Bắc ta có dây đệm cho ngâm thơ sa mạc của người Iran, phỏng theo âm nhạc của người BaTư trên đường đi buôn bán có ghé qua Việt Nam từ cách đây 2000 năm trước công nguyên. Ngoài ra, chúng ta có cây đàn đáy chỉ có ở Việt Nam, cần rất dài, phím đầu tiên là phím giữa dây đàn, khi đàn lên nghe âm rất hay phù hợp với hát ca trù, điệu hát khó đòi hỏi phải học rất lâu. Theo lịch sử, cùng với sự mở rộng về mặt địa lý về phía Nam của cha ông ta, âm nhạc Việt Nam cũng có sự di chuyển nhạc cổ truyền từ miền Bắc xuống miền Trung và miền Nam mang theo những thay đổi về lời hát, điệu nhạc, giai điệu cho phù hợp với người dân từng vùng. Điều này giải thích vì sao cùng một bài kinh nhưng ở mỗi miền lại tụng theo những điệu khác nhau, đồng thời giải thích sự phong phú của các làn điệu âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Ở miền Bẳc chúng ta có : hát chèo, hát xẩm, hát chầu văn, ca trù, quan họ, hát ví dặm, hát phường vải, hát xoan. Ở miền Trung, chúng ta các điệu hò và trên khắp cả nước chúng ta có các điệu hát ru mà mỗi người dân luôn ghi nhớ trong tim cho dù đi đâu xa.
Langue: Français
La musique traditionnelle vietnamienne se caractérise par les 5 variétés de gamme pentatonique comme je vais montrer (démonstration). Après, nous avons des notes spécifiques : au Nord par exemple, nous avons inventé deux cordes spéciales résonnant la note la plus basse pour accompagner les poèmes, ce qu'on appelle la note du désert. Cette note a été inspirée de la musique iranienne lors des passages des Iraniens au Vietnam il y a 2000 ans avant le J.C. Nous avons le dan day, joué exclusivement par les hommes, date probablement du XVe siècle. Cet instrument a des stries et un très long manche. La technique ngon chun qui est l'action d'appuyer sur la corde, permet d'obtenir les tonalités les plus basses qui vont très bien avec les chants Cua dinh et Ca tru- les chants difficiles qui demandent beaucoup de temps pour apprendre à chanter. Avec l'expansion géographique, la musique du Vietnam s'est aussi répandu vers le Sud mais en créant des variétés régionales très originales. Aussi, un même chant de messe se dérive en différentes versions en allant du Nord au Sud. Au Nord, nous avons hat cheo, hat xam, hat chau van, ca tru, quan ho, hat phuong vai, hat xoan. Au Centre, nous avons des ho et dans tout le pays, nous avons les berceuses que tous les Vietnamiens n’oublient jamais quel que soit où on est.
Titre: Âm nhạc của các dân tộc thiểu số
Durée: 00:09:01   [00:24:39 > 00:33:41]
Ở Việt Nam có 54 dân tộc anh em sinh sống mà mỗi dân tộc sở hữu một nền âm nhạc riêng với các nhạc cụ đặc thù. Nét độc đáo của âm nhạc Tây Nguyên là dàn Cồng Chiêng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa truyền khẩu phi vật thể của nhân loại năm 2005. Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen, tiếng kêu rất hay. Cồng là loại có núm, chiêng không núm, có thể gõ bằng dùi hoặc bằng tay. Dàn cồng chiêng thường có từ 9 đến 14 cái, cấu tạo như gia đình, gồm có cha, mẹ, con, anh, chị, em. Với kỹ thuật khác nhau, người chơi có thể tạo ra 3 loại âm thanh khác nhau nghe rất hay. Sau đó, phải kể đến các loại Khèn của Tây nguyên khác với Khèn của người Mèo, đều làm bằng tre và thổi rất hay. Ngoài ra, có cây đàn k’ni của người Ba Na và Êđê. Tiếp theo phải kể đến đàn T’rưng mà người chưi tạo ra các âm thanh bằng cách gõ 2 cái dùi tre nhỏ như hai cái đũa vào các ống tre. Ngày nay, đàn T’rưng được chơi trong những buổi biểu diễn âm nhạc chuyên nghiệp và nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà trên khắp thế giới. Cuối cùng, phải kể đến cây đàn môi của người Mông, phổ biến từ 40 năm nay là nhạc khí đa âm, đặc biệt và ngày càng tinh xảo.
Langue: Français
On compte sur tout le territoire du Vietnam vivre ensemble 54 ethnies qui possède chacune une musique propre et des instruments spécifiques. La particularité de la musique des Tay Nguyen se présente à travers l'ensemble Gongs ou Cong-Chieng, reconnus comme patrimoine culturel immatériel et oral de l'humanité en 2005 par l'UNESCO. Les gongs sont des instruments de musique faits de bronze et parfois d'un alliage d'or, d'argent et de bronze oxydé. Les joueurs peuvent utiliser les techniques différentes pour faire 3 sortes de sons très intéressants. L'ensemble se compose de 9 à 14 instruments qui se structurent comme une famille: père, mère, enfants, frère-soeur, ... Après, il faut compter les Khen des Mongs qui diffèrent de ceux des Meo (il s'agit d'un instrument à vent en bambou) et le k'ni, populaire auprès des groupes Ba Na et E De, est un instrument monocorde joué par certains groupes ethniques tels que les Ba Na, Gia Rai, E De, Xo Dang, Pako, et Hre dans la région Truong Son - Tay Nguyen. Le t’rung produit des sons lorsque les musiciens frappent sur les tubes avec des baguettes de bambou. De nos jours, le t’rung est un instrument utilisé dans des spectacles professionnels. Sa musique est connue du public vietnamien comme des étrangers. Enfin, depuis 40 ans, Dan moi des Mongs, très spécial, polyphonique, devient de plus en plus raffiné.
Titre: Sự phát triển của Tân nhạc
Durée: 00:05:31   [00:33:41 > 00:38:53]
Năm 1954 khi đất nước bị chia cắt thì ở miền Nam và miền Bắc, mỗi miền lại phát triển một xu hướng tân nhạc riêng. Nếu như ở miền Bắc, âm nhạc chịu ảnh hưởng của Nga và Trung quốc với tên tuổi của các nhạc sĩ như Văn Thương, Hoàng Việt thì ở miền Nam, âm nhạc theo xu hướng Mỹ. Năm 1975 khi đất nước thống nhất, người ta bắt đầu nới lỏng nhạc về chiến tranh và nói nhiều về tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đất nước, cảnh đệp nông thôn. Ngày nay, trong số những gương mặt làm cho bức tranh tân nhạc Việt Nam có thêm nhiều màu sắc, cần phải kể đến Vũ Nhất Thanh và Trần Thiện Đạo-học trò của Olivier Messiaen, giáo sư âm nhạc nổi tiếng của thế kỷ 20. Cuối cùng, cần phải nói rằng âm nhạc Việt Nam rất phong phú, đa dạng và có nhiều loại hình đặc sắc, tôi sẽ giới thiệu cụ thể từng loại hình âm nhạc vào một dịp khác.
Langue: Français
En 1954 où le pays a été divisé en deux, la musique moderne se développe différemment dans le Nord et le Sud. Au Nord, la musique est nettement influencé par la Russie et la Chine où les compositeurs comme Nguyen Van Thuong, Hoang Viet ont fait les études. Au Sud, il s'agit de la musique influencée par les américains. A la réunification du pays en 1975, on lâche la musique de guerre et parle de l'amour, de la beauté des paysages campagnards... A l'heure actuelle, parmi les jeunes qui ont fait la musique une nouvelle couleur, il faut citer Vu Nhat Thanh ou Nguyen Thien Dao-élève de Olivier Messiaen, professeur de musique très connu du 20è siècle. Enfin, il faut dire que la musique vietnamienne est très riche et a plusieurs images, je vais analyser une autre fois.

5 chapitres.
  • Corpus audiovisuels. Âm nhạc Việt Nam kể từ thời lập quốc với hơn 1000 năm Bắc thuộc chịu ảnh hưởng nhiều của Trung Quốc từ nhạc ngữ như Cung, Thương, Cốc, Triều, Vũ và Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, đến nhạc cụ như đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn tam, trống, đàn triều đình... Ba nhạc cụ duy nhất chỉ có ở Việt Nam là đàn bầu, đàn đáy và đàn sinh tiền. Tuy nhiên, cùng với thời gian việc giảng dạy trong các trường đại học âm nhạc ở Việt Nam đã chuyển sang đồ, rê, mi, pha, son, la.
  • Chúng ta có thể chia lịch sử âm nhạc Việt Nam thành nhiều giai đoạn, từ thời Ngô Quyền lập quốc đầu thế kỷ thứ 10 cho đến tận ngày hôm nay. Thời gian đầu, từ thế kỷ 10 cho tới thế kỷ 15 thời nhà Trần kết thúc, âm nhạc nước ta chịu ảnh hưởng của nhạc Ẩn độ và nhạc Trung quốc, Sau đó, từ thế kỷ 15 đền thể kỷ 18 dưới thời Lê, vua Lê Thánh Tông đã cử đại thần Nguyễn Trãi sang Trung quốc để học âm nhạc cuả nhà Minh. Trở về nước, ông đã phát triển Nhạc Cung đình và vì thế chúng ta có những loại nhạc giống với Trung quốc như: Đường thường Chi nhạc, Đường hạ Chi nhạc, Cung trung Chi nhạc, Miếu nhạc, Yến nhạc... Từ đầu thế kỷ 19 đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, bên cạnh việc tạo được một chỗ đứng quan trọng cho âm nhạc, văn hóa nước ta cũng chịu ảnh hưởng của văn hoá Tây phương do Pháp mang đến. Vì thế dòng nhạc Cải lương xuất hiện và vào những năm 1930, nền tân nhạc ra đời. Cải lương được thoát thai từ những vở kịch như: « Le Cid » de Corneille, « Les misérables » de Victor Hugo…Còn tân nhạc thì ban đầu, những điệu nhạc, lời ca được sáng tác rất đơn giản nhưng lời bài hát thì rất trữ tình và đi vào lòng người. Thời gian này, tân nhạc Việt nam vừa vẫn giữ ảnh hưởng của Trung Quốc với âm nhạc ngũ cung nhưng đồng thời phát triển âm nhạc thất cung theo kiểu Pháp. Từ năm 1945, chúng ta thấy có sự suy đồi của nhạc cổ truyền và sự phát triển không ngừng của Tân nhạc. Các học viên âm nhạc được cử đi học ở phương Tây, khi về nước sáng tác ngày càng nhiều các bản hòa tấu, viết cho đàn pinao... và dàn nhạc giao hưởng của Việt Nam đầu tiên đã ra đời ở Hà Nội. Từ đó đến nay, âm nhạc nước ta cũng đã tiếp nhận các dòng nhạc như: pop, rock, salsa, hip hop, techno...tuy nhiên âm nhạc truyền thống đang ngày càng mai một.
  • Đặc trưng của âm nhạc cổ truyền Việt Nam là dựa trên thăng âm nhạc ngũ cung và có 5 loại thăng âm nhạc ngũ cung như tôi minh họa (minh họa). Ngoài ra, chúng ta có những thăng âm rất đặc biệt : ví dụ như ở miền Bắc ta có dây đệm cho ngâm thơ sa mạc của người Iran, phỏng theo âm nhạc của người BaTư trên đường đi buôn bán có ghé qua Việt Nam từ cách đây 2000 năm trước công nguyên. Ngoài ra, chúng ta có cây đàn đáy chỉ có ở Việt Nam, cần rất dài, phím đầu tiên là phím giữa dây đàn, khi đàn lên nghe âm rất hay phù hợp với hát ca trù, điệu hát khó đòi hỏi phải học rất lâu. Theo lịch sử, cùng với sự mở rộng về mặt địa lý về phía Nam của cha ông ta, âm nhạc Việt Nam cũng có sự di chuyển nhạc cổ truyền từ miền Bắc xuống miền Trung và miền Nam mang theo những thay đổi về lời hát, điệu nhạc, giai điệu cho phù hợp với người dân từng vùng. Điều này giải thích vì sao cùng một bài kinh nhưng ở mỗi miền lại tụng theo những điệu khác nhau, đồng thời giải thích sự phong phú của các làn điệu âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Ở miền Bẳc chúng ta có : hát chèo, hát xẩm, hát chầu văn, ca trù, quan họ, hát ví dặm, hát phường vải, hát xoan. Ở miền Trung, chúng ta các điệu hò và trên khắp cả nước chúng ta có các điệu hát ru mà mỗi người dân luôn ghi nhớ trong tim cho dù đi đâu xa.
  • Ở Việt Nam có 54 dân tộc anh em sinh sống mà mỗi dân tộc sở hữu một nền âm nhạc riêng với các nhạc cụ đặc thù. Nét độc đáo của âm nhạc Tây Nguyên là dàn Cồng Chiêng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa truyền khẩu phi vật thể của nhân loại năm 2005. Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen, tiếng kêu rất hay. Cồng là loại có núm, chiêng không núm, có thể gõ bằng dùi hoặc bằng tay. Dàn cồng chiêng thường có từ 9 đến 14 cái, cấu tạo như gia đình, gồm có cha, mẹ, con, anh, chị, em. Với kỹ thuật khác nhau, người chơi có thể tạo ra 3 loại âm thanh khác nhau nghe rất hay. Sau đó, phải kể đến các loại Khèn của Tây nguyên khác với Khèn của người Mèo, đều làm bằng tre và thổi rất hay. Ngoài ra, có cây đàn k’ni của người Ba Na và Êđê. Tiếp theo phải kể đến đàn T’rưng mà người chưi tạo ra các âm thanh bằng cách gõ 2 cái dùi tre nhỏ như hai cái đũa vào các ống tre. Ngày nay, đàn T’rưng được chơi trong những buổi biểu diễn âm nhạc chuyên nghiệp và nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà trên khắp thế giới. Cuối cùng, phải kể đến cây đàn môi của người Mông, phổ biến từ 40 năm nay là nhạc khí đa âm, đặc biệt và ngày càng tinh xảo.
  • Năm 1954 khi đất nước bị chia cắt thì ở miền Nam và miền Bắc, mỗi miền lại phát triển một xu hướng tân nhạc riêng. Nếu như ở miền Bắc, âm nhạc chịu ảnh hưởng của Nga và Trung quốc với tên tuổi của các nhạc sĩ như Văn Thương, Hoàng Việt thì ở miền Nam, âm nhạc theo xu hướng Mỹ. Năm 1975 khi đất nước thống nhất, người ta bắt đầu nới lỏng nhạc về chiến tranh và nói nhiều về tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đất nước, cảnh đệp nông thôn. Ngày nay, trong số những gương mặt làm cho bức tranh tân nhạc Việt Nam có thêm nhiều màu sắc, cần phải kể đến Vũ Nhất Thanh và Trần Thiện Đạo-học trò của Olivier Messiaen, giáo sư âm nhạc nổi tiếng của thế kỷ 20. Cuối cùng, cần phải nói rằng âm nhạc Việt Nam rất phong phú, đa dạng và có nhiều loại hình đặc sắc, tôi sẽ giới thiệu cụ thể từng loại hình âm nhạc vào một dịp khác.
Titre: Âm nhạc Việt Nam từ những ngày đầu đến nay
Auteur(s): TRAN, Quang Hai
Date de réalisation: 10/10/2013
Lieu de réalisation: FMSH, 190 avenue de France, 75013 Paris.
Genre: Collections audiovisuelles
Langue(s): Tiếng Việt
Trò chuyện với TRẦN Quang Hai về lịch sử âm nhạc Việt Nam
Sinh trưởng trong một gia đình với 5 thế hệ đi theo dòng nhạc truyền thống dân tộc, nhà âm nhạc – dân tộc học Trần Quang Hải không chỉ đến với dòng nhạc mang âm hưởng truyền thống bằng tính kế thừa và phát huy từ đại gia đình mà còn bằng cả niềm đam mê, bầu nhiệt huyết và tài năng (inné). Thông qua buổi trò chuyện cởi mở, TQH đã giới thiệu đến chúng ta chiều dài lịch sử nền âm nhạc Việt Nam từ thuở đầu cho đến tận ngày nay. Từ đó, TQH đã mang đến cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về âm nhạc truyền thống dân tộc, được thể hiện qua các loại nhạc cụ, các loại hình – thể loại khác nhau, nét đặc trưng về âm sắc – thanh điệu của mỗi vùng miền… Kèm theo đó, xen lẫn với những lí giải sâu sắc, ông còn đưa ra các ví dụ minh họa cụ thể bằng cách thể hiện một vài khúc ca, điệu nhạc truyền thống… Mặt khác, nhà âm nhạc học cũng thể hiện những nỗ lực cũng như là sự băn khoăn trong việc bảo tồn nền âm nhạc truyền thống nước nhà, mà trong đó cả những thể loại được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể” như Nhã nhạc cung đình.
Sujet: Musicologie
Topique: Analyse musicale
Domaine: Anthropologie musicale
Domaine: Classification de la musique
Domaine: Ethnomusicologie
Domaine: Tonalité musicale
Sujet: Régions et pays
Topique: Viêt Nam
Nom: TRAN
Prénom: Quang Hai
Rôle: Musicologues
Appartenance: Centre National de la Recherche Scientifique - CNRS
Fonction: Archiviste
Adresse: 12, rue Gutenberg 94450 Limeil Brevannes - France, France
Né le 13 mai 1944, à Linh Dông Xa (Gia Dinh), Sud Viet Nam , Trân Quang Hai est à la fois musicien accompli, éminent ethnomusicologue, pédagogue, conférencier, compositeur, coureur de la planète sonore, membre du Centre National de la Recherche Scientifique, et le plus grand spécialiste du chant diphonique dans le monde.Tel est le protéiforme de Trân Quang Hai. Il a choisi de suivre son père sur les traces de la reconnaissance scientifique. De la musique et de l’étude, de l’Orient et de l’Occident, il a créé un mélange à sa manière toute personnelle, emprunte d’humour et de conscience profonde de ses responsabilités. Ancien élève du Conservatoire de Musique de Saigon (1955-1961), il est diplômé du Centre d’Etudes de Musique Orientale de Paris en 1970. De famille de musiciens traditionnels depuis cinq générations, il joue d’une quinzaine d’instruments de musique : cithare à 16 cordes (dàn tranh), vièle à 2 cordes (dàn co), cliquettes à sapèques (sinh tiên), guimbardes (dàn môi), cuillers (muông) pour le Vietnam ; vièle à 2 cordes (nan hu) pour la Chine ; tambour à 1 peau (zarb) pour l’Iran ; luth à 4 cordes principales et 3 cordes rythmiques (vina), luth d’accompagnement à 4 cordes (tampura) pour l’Inde ; violon, guitare, mandoline, banjo, flûte à bec, différentes guimbardes d’Europe et d’Asie. Ses études sont approfondies et variées. Il faisait ses études à différentes universités : Institut de Musicologie, British Institute, Institut d’Ethnologie, Ecole du Louvre, Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales, Laboratoire d’Acoustique Musicale. Depuis 1968, il travaille comme chercheur du CNRS au Département d’ethnomusicologie du Musée de l’Homme. Entre 1968 et 1987, il travaillait au Département d’ethnomusicologie du Musée National des Arts et Traditions Populaires à Paris. Pendant presque 45 ans de carrière de musicien professionnel (1962-2005), il a donné plus de 3.000 concerts et un millier de concerts scolaires dans le monde Depuis 1971, il a fait 15 disques microsillons 33 tours et 8 CD sur la musique vietnamienne. Plusieurs de ses compositions ont été enregistrées et mentionnées dans le Who’s Who in Music (1998, 1999, 2000, 2001, 2002), dans le Who’s Who in the World (depuis 1981) et dans le Who’s Who en France (depuis 1997). Trân Quang Hai est le premier musicien vietnamien à jouer dans plusieurs événements historiques : Bicentenaire d’Australie (1988), Bicentenaire de la Révolution Française (1989), 700 ans de Suisse (1991), 350 ans de Montréal, Canada (1992), 500 ans de la découverte d’Amérique par Christophe Colomb (1992), 600 ans de Seoul, Corée (1994), Jubilée du Roi de Thailande (1996).100 ans d’indépendance de la Norvège (2005) Il est un des rares musiciens d’avoir participé à plusieurs Fêtes de la Musique (depuis la 1ère Fête de la Musique en 1982 , puis en 1984, 1985 à Paris , en 1991 à Saint Denis - Ile de la Réunion , en 2000 et 2001 à Paris, et la 21ème Fête de la Musique en 2002 à Beyrouth - Liban) Il est le seul musicien à interpréter plusieurs oeuvres musicales des compositeurs de musique contemporaine comme Nguyên Van Tuong, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard, et aussi de la musique de film écrite par Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, et Jean Claude Petit. Ses recherches sur le chant diphonique depuis 1969 lui ont donné le titre du plus grand spécialiste de cette technique vocale si singulière avec plus de 8.000 stagiaires des 60 pays dans le monde, le Prix Spécial du chant diphonique Khoomei à Kyzyl (Tuva, 1995), la Médaille de Cristal du CNRS en 1996 et la Médaille du Chevalier de la Légion d’Honneur en 2002 . Pour mieux connaître Tran Quang Hai, visitez son site : http://tranquanghai.com
Langue: Français
Né et grandi dans une grande famille de 5 générations poursuivant la musique traditionnelle du Vietnam, l’ethnomusicologue Tran Quang Hai s’y intéresse non seulement par l’hérédité et la valorisation de sa grande famille mais aussi par sa passion, sa ferveur et son talent inné. À travers cet entretien ouvert, Tran Quang Hai nous présente la longue histoire de la musique traditionnelle du Vietnam depuis ses origines jusqu’à nos jours. Alors, il nous donne une vision intégrale sur la tradition de la musique populaire, via des types d’instruments, de divers composants, de différents genres, et de diverses caractéristiques régionaux sur le ton, le timbre, l’air…etc. De plus, parallèlement aux justifications profondes, il fait également des illustrations concrètes en représentant quelques chants, quelques morceaux traditionnels… D’ailleurs, l’ethnomusicologue manifeste sa volonté ainsi que sa préoccupation sur la préservation de la musique traditionnelle de notre peuple, y compris des composants considérés comme « Le patrimoine culturel et immatériel de l’humanité » par UNESCO, par exemple : La musique de Cour…
TRAN, Quang Hai. "Âm nhạc Việt Nam từ những ngày đầu đến nay", Archives Audiovisuelles de la Recherche (AAR), n°2240, 2013, [en ligne] ; URL : http://www.archivesaudiovisuelles.fr/2240/
Type: Régime général "Creative Commons" relatifs au document source
"Cette ressource audiovisuelle est protégée par le régime "Creative Commons". Vous êtes libres de la reproduire, distribuer et communiquer au public. Mais vous devez impérativement signaler sa paternité (son ou ses auteurs), vous n'avez pas le droit de la modifier ni d'en faire un usage commercial. Lecture, diffusion et exploitation concrète de cette ressource audiovisuelle présuppose que vous ayez accepté les règles juridiques Creative Commons décrites dans la page http://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/2.0/fr/"
Titre: Âm nhạc Việt Nam từ những ngày đầu đến nay
Langue(s): Tiếng Việt
Type: Analyse plus détaillé
Comment citer: DO, Thi Thanh Tam. "Analyse de base de la vidéo Âm nhạc Việt Nam từ những ngày ̣đầu đến nay", Archives Audiovisuelles de la Recherche (AAR), nn°2240, 2013, [en ligne] ; URL : http://www.archivesaudiovisuelles.fr/2240/(AAR, 2013)
Id analyse: 9de0aa65-a190-4d22-bab2-15e1fb9ff837
Id vidéo: 85eef290-05c3-4994-8941-1025383311ac
Trò chuyện với TRẦN Quang Hai về lịch sử âm nhạc Việt Nam
Sinh trưởng trong một gia đình với 5 thế hệ đi theo dòng nhạc truyền thống dân tộc, nhà âm nhạc - dân tộc học Trần Quang Hải không chỉ đến với dòng nhạc mang âm hưởng truyền thống bằng tính kế thừa và phát huy từ đại gia đình mà còn bằng cả niềm đam mê, bầu nhiệt huyết và tài năng (inné). Thông qua buổi trò chuyện cởi mở, TQH đã giới thiệu đến chúng ta chiều dài lịch sử nền âm nhạc Việt Nam từ thuở đầu cho đến tận ngày nay. Từ đó, TQH đã mang đến cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về âm nhạc truyền thống dân tộc, được thể hiện qua các loại nhạc cụ, các loại hình - thể loại khác nhau, nét đặc trưng về âm sắc - thanh điệu của mỗi vùng miền… Kèm theo đó, xen lẫn với những lí giải sâu sắc, ông còn đưa ra các ví dụ minh họa cụ thể bằng cách thể hiện một vài khúc ca, điệu nhạc truyền thống… Mặt khác, nhà âm nhạc học cũng thể hiện những nỗ lực cũng như là sự băn khoăn trong việc bảo tồn nền âm nhạc truyền thống nước nhà, mà trong đó cả những thể loại được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể” như Nhã nhạc cung đình.